Hiển thị các bài đăng có nhãn - Xu Hướng Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn - Xu Hướng Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2016

Vũ khí mới của nghề marketer

Việc này giúp chuyển tải một cách sống động thông điệp của thương hiệu là vui nhộn, trẻ trung và sáng tạo bất ngờ, thậm chí các thương hiệu có thể hợp tác chéo để trao thưởng cho người chơi, tạo ra cơ hội quảng bá thương hiệu mới.


Phát triển bao bì thông minh hứa hẹn sự vô hạn của sáng tạo và tự nó trở lại góp phần đáng kể vào độ nhận diện thành công của một thương hiệu.

Chuyển tải thông tin thương hiệu
Không đơn thuần chỉ là “vật chứa” thông tin thương hiệu, bao bì sản phẩm còn được tích hợp với các thiết bị công nghệ số, tạo nên sự bất ngờ thú vị cho khách hàng.
Nếu như thương hiệu là hình ảnh, gợi nên cảm xúc ở người tiêu dùng thì bao bì sản phẩm chính là sự cụ thể hóa của những hình ảnh và cảm xúc ấy. Thương hiệu chuyển tải các giá trị, thông tin của mình qua hình dạng, chất liệu, màu sắc, font chữ, biểu tượng.
Không chỉ là vật để đựng, bao bì còn mang theo câu chuyện và hình ảnh của một đất nước, một chỉ dẫn địa lý, một niềm tự hào, một truyền thống, một bí quyết trăm năm… giúp doanh nghiệp bán hàng và xây dựng sự trung thành của khách hàng.
Đơn cử như một thương hiệu chọn đưa hình vẽ cổ nghìn năm trên cao nguyên kì bí của Scotland hiện lên trên vỏ chai sản phẩm của mình. Hình ảnh Nữ hoàng Anh lộng lẫy và uy quyền trên hộp trà Ahmad hay hình ảnh quen thuộc của các nhà bưu điện kiểu Anh hiện lên trên hộp trà mini English breakfast.
Thương hiệu Davines đến từ Italia lại đưa những họa tiết cổ từ những bức tranh kính nhà thờ, những hoa văn dệt vải cổ làm nên lớp áo kiêu sa bọc sản phẩm. Năm 2005, giới thời trang xôn xao về sự ra đời của chai nước hoa J’Adore Dior. Hình dạng đặc biệt của nó gợi nhớ tới những người phụ nữ-hươu-cao cổ của bộ lạc Kyan Myanmar- và xa hơn còn là những đường cong của người phụ nữ khoả thân, ngọc ngà như nàng Vệ nữ trong tranh của Botticelli…
Có những thương hiệu coi nhãn dán như một tác phẩm nghệ thuật và mời các nghệ sỹ tạo hình nổi tiếng vẽ hoặc thiết kế, sau đó đưa ra trưng bày như những tác phẩm thực thụ. Tuy nhiên, giờ đây thế giới đã chuyển qua thời đại công nghệ số, bao bì sản phẩm cũng phải thay đổi để có thể kể câu chuyện thương hiệu của mình thông qua các kênh truyền thông mà người tiêu dùng thường xuyên sử dụng, đặc biệt là qua các thiết bị truyền thông thế hệ mới.
Bao bì thông minh lên ngôi
Có thể coi dự án bán hàng ra đời ở Hàn Quốc qua QR code như một dấu ấn quan trọng của việc phát triển bao bì thông minh. Trên bến đợi tàu điện ngầm, người ta để một dãy sản phẩm có QR code. Người mua chỉ việc quét QR code và thanh toán qua điện thoại thông minh là hàng được chuyển tới nhà.
Quả thật, hành vi tiêu dùng đang ngày càng thay đổi, khách hàng giờ chỉ cần tới cửa hàng, chụp hình sản phẩm mình cần mua và có thể thanh toán ngay qua điện thoại mà không cần qua quầy thu ngân. Khán giả xem ca nhạc cũng không cần tới nơi hay gọi điện đặt vé mà chỉ cần quét QR code hoặc chụp hình poster là đã có thể đặt được vé…
Những thay đổi nhanh chóng này buộc các doanh nghiệp phải tìm cách tương tác nhiều hơn với khách hàng. Và một điều trở nên quan trọng vô cùng là phải mang lại cảm xúc cho họ. Từ năm 2012, khách hàng mua cà phê Starbucks có thể dùng điện thoại scan vỏ cốc rồi chọn 1 trong 25 trạng thái tình cảm trên đó và sẽ nhận được một bài hát, bản nhạc tương ứng với trạng thái cảm xúc đã chọn của mình. Và hơn lúc nào hết, bao bì trở thành công cụ tạo tương tác trực tuyến với khách hàng.
Thương hiệu bán đồ ngũ cốc ăn sáng Wheaties đã cho in trên bao bì những kí hiệu đặc biệt. Khi dùng điện thoại di động quét qua vỏ hộp, người tiêu dùng có thể tham gia vào trò chơi hoặc có thể chọn ghép ảnh của mình với ngôi sao mình yêu thích rồi đưa lên mạng xã hội… Hãng gia vị Old Bay lại chọn cách cung cấp các công thức nấu nướng hay gợi ý món ăn cho bữa tối hoặc mang lại tiện ích được tải trò chơi miễn phí.
Không chỉ dừng ở công cụ tương tác với khách hàng, bao bì sản phẩm đồng thời đưa người tiêu dùng thành người quảng bá miễn phí cho doanh nghiệp. Khi khách hàng chụp ảnh sản phẩm và đưa lên trang mạng xã hội của mình, doanh nghiệp có thêm cơ hội đến với cộng đồng.
Một ví dụ khác là thương hiệu sôcôla Dove. Nhân ngày tình yêu, người tiêu dùng có thể lên mạng quay hình mình với sản phẩm sôcôla của hãng, chọn trực tiếp thông điệp và hiệu ứng hình ảnh video trên màn hình và gửi hộp quà tới người mình yêu.
Công nghệ mới được áp dụng vào bao bì mở ra những khả năng phong phú cho các nhà tiếp thị: phòng thí nghiệm Seibersdorf mới đây đã đưa ra loại vỏ hộp đồ uống mới – hộp NFC, cho phép người tiêu dùng ghi thông tin trực tiếp lên vỏ hộp. Khi người tiêu dùng tải ứng dụng của công ty vào máy, sau khi uống xong, có thể scan sản phẩm và đưa ra câu trả lời của mình về chất lượng sản phẩm thẳng vào hộp bằng cách ấn nút trên apps.
Hộp uống xong được bỏ vào thùng rác có gắn đầu đọc dữ liệu. Nếu bạn muốn tổ chức trò chơi trúng thưởng hoặc khuyến mãi, cũng áp dụng nguyên tắc tương tự, người chiến thắng sẽ nhận được SMS hay email báo tin.
Không chỉ công nghệ thông tin, những cải tiến về hóa học cũng được các nhà tiếp thị tận dụng triệt để. Thương hiệu Fanta tung ra chiến dịch truyền thông lớn dưới dạng một cuộc thi: các thông điệp khác nhau được ghi ẩn bên sườn chai.
Ở nhiệt độ tủ lạnh, thông điệp bị che mờ, ở nhiệt độ thường hoặc người tiêu dùng dùng tay lau chai, thông điệp sẽ hiện ra. Người tiêu dùng scan thông tin ấy gửi cho bạn bè, người thân hoặc tham gia vào cuộc thi do công ty tổ chức.
Việc này giúp chuyển tải một cách sống động thông điệp của thương hiệu là vui nhộn, trẻ trung và sáng tạo bất ngờ, thậm chí các thương hiệu có thể hợp tác chéo để trao thưởng cho người chơi, tạo ra cơ hội quảng bá thương hiệu mới.
Thế giới đã chuyển qua thời đại kỹ thuật số với việc công nghệ và smartphone đã đi vào từng ngóc ngách của cuộc sống, bao bì cũng buộc phải chuyển mình để tiếp cận hiệu quả và sáng tạo nhất với người tiêu dùng. Vũ khí mới đã có, hãy chờ xem các nhà tiếp thị tại Việt Nam sẽ sử dụng như thế nào.

Đôi khi sự phản cảm mang lại kết quả tốt

Rõ ràng, quảng cáo dựa trên thông điệp gây phản cảm sẽ dễ tạo được dư luận hơn các biện pháp thông thường mà có khi còn tốn ít chi phí hơn. Tuy nhiên, doanh nghiệp khi quyết định thực hiện marketing kiểu này, cần chú ý cẩn trọng khi đụng đến những đề tài cực đoan như bạo lực hay chết chóc.


Tháng 8/2013, một mẫu quảng cáo của nhãn hiệu sữa Anlene được phát sóng trên truyền hình đã gây nhiều tranh cãi và bị khán giả chỉ trích. Đoạn phim mở đầu với hình ảnh người con gái đang chăm sóc vườn cây với mẹ.
Hãng thời trang Benetton cho biết marketing gây sốc vẫn sẽ là định hướng của họ.
Khi nhìn thấy mẹ bước lên cầu thang một cách khó khăn, cô con gái lo lắng và nói: “Nghe bác sĩ nói mẹ có nguy cơ loãng xương, mình lo lắm. Nên mình quyết định uống Anlene vì nghe nói Anlene giúp làm giảm nguy cơ loãng xương trong 4 tuần”. Thay vì lo lắng cho mẹ có nguy cơ loãng xương và mua sữa cho bà thì người con lại quyết định uống một mình, khiến cho câu chuyện này trở nên phản cảm.
Chỉ sau 1 tuần phát sóng, mẫu quảng cáo đã thu hút được quan tâm của đông đảo công chúng. Đoạn phim này còn được đưa lên YouTube và nhận được rất nhiều lượt xem, bình luận và chia sẻ. Hình ảnh đoạn quảng cáo và ý kiến của người xem cũng tràn ngập các mạng xã hội. Có vẻ như Anlene đã thành công khi gây được sự chú ý cao độ từ khán giả, dù đó là những phản ứng tiêu cực.

Đồng thời, trên YouTube cũng xuất hiện bản đầy đủ của mẫu quảng cáo trên với nội dung hợp lý hơn rất nhiều so với trước đó. Thế là khán giả thay đổi thái độ gần như ngay lập tức. Hầu hết đều tỏ ra thông cảm với Anlene và trách đài truyền hình đã gây ra hiểu lầm không đáng có. Không rõ đây có phải là sự cố được sắp đặt trước hay không, nhưng rõ ràng marketing sử dụng thông điệp gây tranh cãi sẽ luôn tạo được hiệu ứng lan truyền mạnh mẽ trong cộng đồng.Khi sự chú ý đạt đến đỉnh điểm, những thông tin mang tính giãi bày và bào chữa cho kịch bản phản cảm trên bỗng dưng xuất hiện. Một tấm hình chụp cảnh nhân vật nữ mang ly sữa mời người mẹ trong mẫu quảng cáo được đưa lên mạng xã hội, kèm theo lời bình luận về chuyện nhà đài cắt xén nội dung kịch bản khi phát sóng.
Trước Anlene, nhãn hiệu Kangaroo từng khuấy động thị trường bằng một mẫu quảng cáo gây khó chịu cho người xem. Đoạn quảng cáo đó chỉ hiển thị một thông điệp “Kangaroo, máy lọc nước hàng đầu Việt Nam” và được phát đi phát lại liên tục mấy chục lần giữa khuya trong trận chung kết cúp C1 châu Âu năm 2011.
Chỉ 5 phút sau khi quảng cáo này được phát sóng, người dùng các mạng xã hội tại Việt Nam đã lập tức xôn xao về một thương hiệu lạ hoắc dám chọc tức cả triệu người xem truyền hình. Thế nhưng, theo đại diện Kangaroo, doanh thu năm đó của họ đã tăng đến 400% nhờ thương hiệu được nhiều người biết đến.
Trên thế giới, quảng cáo dựa trên những thông điệp gây tranh cãi được sử dụng từ lâu như một chiến thuật marketing du kích ít tốn kém nhưng đạt hiệu quả cao. Chuỗi thức ăn nhanh Carl Jr. (Mỹ) từng cả gan giao cho cô đào tai tiếng Paris Hilton quảng cáo sản phẩm bánh kẹp mới, vì họ muốn nhắm vào khách hàng là đàn ông độc thân từ 18-35 tuổi. Hay như nhãn hàng Dove ở Mỹ (thuộc Unilever) trưng lên loạt biển quảng cáo có hình ảnh một người phụ nữ trung niên khỏa thân, không trang điểm và có phần hơi thô kệch để thu hút sự chú ý của người đi đường. Những thông điệp quảng cáo kiểu như vậy tuy có thể trở thành tâm điểm của chỉ trích, nhưng đã giúp cho hình ảnh của sản phẩm hay thương hiệu nhanh chóng được biết đến.
Nói đến quảng cáo gây tranh cãi mà không nhắc đến thương hiệu thời trang Benetton (Ý) sẽ là một thiếu sót. Ra đời từ năm 1965 và đã hiện diện ở 120 quốc gia với 6.500 cửa hàng, nhưng trước khi Benetton bắt đầu thực hiện các mẫu quảng cáo gây sốc, thương hiệu này mới chỉ nổi tiếng ở trong nước.
Đầu những năm 1980, nhà Benetton phải đối mặt với vấn đề làm thế nào để người tiêu dùng khắp thế giới nhận biết được thương hiệu của mình. Thời điểm này, các đối thủ của Benetton như chuỗi thời trang Zara (Tây Ban Nha) hay H&M (Thụy Điển) đã bắt đầu bành trướng. Quyết không đi theo lối mòn marketing với hình ảnh nam thanh nữ tú xinh đẹp như các hãng thời trang khác, Benetton chọn chiến thuật quảng cáo gây sốc xoay quanh các vấn đề thời sự như nạn phân biệt đối xử, chiến tranh, ô nhiễm môi trường hay bệnh tật và sử dụng hình ảnh đôi khi quá chân thực. Đã có không ít ý kiến lên án các chiến dịch quảng cáo của Benetton, nhưng nhờ vậy thương hiệu này nhanh chóng gây được tiếng vang và bắt đầu được cả thế giới biết đến.
Đến năm 2011, Benetton lại một lần nữa tạo sóng đối với dư luận toàn cầu khi thực hiện chiến dịch quảng cáo với hình ảnh lãnh đạo chính trị và tín ngưỡng cấp cao thế giới hôn nhau. Mang thông điệp kêu gọi xóa bỏ mọi thù ghét, Benetton trưng lên những bảng quảng cáo có cảnh Giáo hoàng Benedict hôn môi Lãnh tụ Hồi giáo Ai Cập, hay Tổng thống Mỹ Barack Obama hôn môi Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và cố lãnh đạo Venezuela Hugo Chavez…
Những hình ảnh này xuất hiện ở các cửa hàng của Benetton trên khắp toàn cầu, cũng như trên báo chí và internet. Chiến dịch này bị phản đối mạnh mẽ đến mức chỉ vài giờ sau khi được triển khai, Tòa thánh Vatican đã ra thông cáo phản đối việc chỉnh sửa và sử dụng hình ảnh Giáo hoàng nhằm mục đích thương mại. Dù vậy, theo đại diện của Benetton, marketing gây sốc vẫn sẽ là định hướng của họ.
Rõ ràng, quảng cáo dựa trên thông điệp gây phản cảm sẽ dễ tạo được dư luận hơn các biện pháp thông thường mà có khi còn tốn ít chi phí hơn. Tuy nhiên, doanh nghiệp khi quyết định thực hiện marketing kiểu này, cần chú ý cẩn trọng khi đụng đến những đề tài cực đoan như bạo lực hay chết chóc.
Từ trước đến nay, hãng xe Hyundai (Hàn Quốc) chưa bao giờ thực hiện bất kỳ một quảng cáo gây sốc nào. Thế nhưng gần đây, họ lại tung lên internet đoạn quảng cáo kể chuyện một người đàn ông trung niên định tự tử bằng cách nối ống xả xe hơi thẳng vào trong cabin xe rồi nổ máy. Kế hoạch thất bại vì chiếc Hyundai của ông là phiên bản chạy bằng pin nhiên liệu nên không có khí thải CO2. Tuy có ý tưởng hài hước hóa chuyện chết chóc để quảng cáo cho tính năng hiện đại của chiếc xe, nhưng vô tình đoạn quảng cáo này đã khơi lại nỗi đau của những người có người thân tự tử bằng cách này khắp thế giới. Cuối cùng, Hyundai đã phải cho gỡ bỏ đoạn phim và công khai xin lỗi người tiêu dùng.

Quảng bá tập đoàn bằng những bản nhạc cổ điển


“Âm nhạc là một trong những trụ cột chính của các chương trình vì cộng đồng của chúng tôi - vì nước Nga sở hữu một vốn truyền thống với âm nhạc cổ điển, điều mà chúng tôi rất tự hào chia sẻ với thế giới”, ông Edrenkine nhấn mạnh.

Nghe có vẻ không liên quan gì với nhau nhưng nhạc cổ điển lại nằm trong chiến lược marketing của tập đoàn gas lớn nhất thế giới Gazprom.
Nghệ sĩ đàn violin Alena Baeva đang trình diễn bản Overture “The creatures of Prometheus”, concerto cung mi thứ của Mendelssohn.


Gazprom là một công ty năng lượng có tiếng trong lĩnh vực tìm kiếm, khai thác, truyền dẫn, lưu trữ, xử lý và quảng bá gas tự nhiên và các sản phẩm hydrocarbon khác tại Nga và trên thế giới. Gazprom không chỉ là tập đoàn lớn nhất của Nga, sản xuất 74% và lưu trữ 72% lượng gas của quốc gia này mà còn là nhà sản xuất khí gas tự nhiên lớn nhất thế giới, với trữ lượng ước tính lên đến 35,1 ngàn tỉ m3 và chiếm giữ 18% tổng dự trữ gas toàn thế giới.
Thế nhưng, Tập đoàn Gazprom không tập trung quảng bá sản phẩm của mình như kiểu truyền thống các doanh nghiệp, công ty thường làm, mà lại chú trọng đầu tư vào những dự án hỗ trợ cộng đồng không mấy liên quan đến sản phẩm của tập đoàn này.
Ba mục tiêu Gazprom tập trung đầu tư là con người, nghệ thuật và thể thao. Trong đó, nghệ thuật được chú trọng nhiều nhất và số tiền thu lại từ các hoạt động nghệ thuật sẽ được tặng cho các tổ chức về con người.
“Một vài người có thể hỏi tại sao Gazprom, một tập đoàn năng lượng, lại tham gia các hoạt động văn hóa và nghệ thuật nhiều như thế. Chúng tôi tin rằng âm nhạc và nghệ thuật là những phần thiết yếu của xã hội. Chúng phản chiếu tinh thần của mỗi quốc gia và nếu thiếu thì sẽ không còn ý nghĩa gì nữa”, ông Serguei Edrenkine, Tổng Giám Đốc của Gazprom Marketing & Trading Singapore, cho biết.
Ông Edrenkine cho rằng danh tiếng trong thương trường của một công ty hiện đại phần lớn dựa trên việc theo sát các chuẩn mực đạo đức cao nhất. Âm nhạc luôn là một trụ cột của các hoạt động hướng về cộng đồng của Tập đoàn Gazprom.
Năm 2012, Gazprom đã tài trợ chuyến lưu diễn đặc biệt của dàn nhạc Nga Moscow Soloists tới Thượng Hải, Bắc Kinh, Singapore và Tokyo. Họ đã biểu diễn cùng nhạc trưởng và cũng là nhạc sĩ violin Yuri Bashmet, người tổ chức những lớp học đặc biệt không thu phí dành cho sinh viên âm nhạc tại mỗi quốc gia mà đoàn đi qua.
Phần tiền có được từ những đêm nhạc được tặng cho nhiều quỹ khác nhau tại các địa phương. 30.000 USD trích từ tiền bán vé trong buổi hòa nhạc tại Singapore năm ngoái đã được chuyển đến Quỹ Giáo dục Sinh viên của Nhà hát kịch Singapore (SRT).
Nhờ vào phần đóng góp này, hàng trăm trẻ em nghèo khó đã có thể xem kịch và tham gia vào các chương trình tập huấn do SRT tổ chức.
Gần đây nhất, vào ngày 1/11, Gazprom đã tổ chức buổi trình diễn với sự tham gia của 3 thần đồng âm nhạc người Nga gồm nghệ sĩ đàn violin Alena Baeva, nghệ sĩ đàn cello Alexander Buzlov và nghệ sĩ kèn clarinet Valentin Uryupin với dàn nhạc giao hưởng thuộc Tổ chức những nhạc sĩ trẻ.
Dù buổi hòa nhạc không bán vé nhưng nhằm hỗ trợ cho nền nghệ thuật của Singapore và châu Á, Gazprom vẫn quyên góp được 20.000 USD cho tổ chức này.
Gazprom chọn âm nhạc là mục tiêu để đầu tư quảng bá bởi rất nhiều lý do, nhưng một trong những lý do đó là âm nhạc không có biên giới.
Cả 3 thần đồng âm nhạc tham gia còn dành ra 3 ngày trước buổi hòa nhạc, tổ chức một khóa học đặc biệt cho các sinh viên đến từ nhiều viên âm nhạc, bao gồm Học viện Nghệ thuật Singapore, Viện Mỹ thuật Nanyang và Nhạc viên Yong Siew Toh, trực thuộc Đại học Quốc gia Singapore. Rất nhiều học viên của khóa học này là sinh viên Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Malaysia.
Nghệ sĩ đàn violin Alena Baeva chia sẻ trong buổi phỏng vấn: “Nhạc cổ điển giúp con người ta trở nên tốt hơn và cho phép họ chia sẻ những cảm xúc quan trọng nhất một cách trực tiếp bằng cách phá vỡ hàng rào ngôn ngữ. Vẻ đẹp đi vào tận trái tim của mỗi người và truyền cảm hứng cho họ, nâng cao chất lượng cuộc sống”.
Điều khôn ngoan nhất của Tập đoàn Gazprom là gắn thương hiệu của mình vào văn hóa dân tộc Nga. Chi mạnh tay cho việc tài trợ dàn nhạc lưu diễn thế giới hay tổ chức hoành tráng buổi hòa nhạc Synergy in Music tại Singapore, Gazprom trở thành công ty tiên phong mang văn hóa âm nhạc cổ điển của Nga chia sẻ với thế giới.
Với việc mang tinh hoa của dân tộc đi quảng bá, tập đoàn sản xuất khí gas lớn nhất thế giới không chỉ gây ấn tượng mạnh với bạn bè thế giới, củng cố thương hiệu với các đối tác nước ngoài mà còn được người dân Nga yêu mến.
“Âm nhạc là một trong những trụ cột chính của các chương trình vì cộng đồng của chúng tôi - vì nước Nga sở hữu một vốn truyền thống với âm nhạc cổ điển, điều mà chúng tôi rất tự hào chia sẻ với thế giới”, ông Edrenkine nhấn mạnh.
Là một phần trong chuỗi những kế hoạch dài hạn của Tập đoàn Gazprom, sự kiện Synergy in Music được xem như là một phần trong sự đóng góp của tập đoàn này đến nền văn hóa nghệ thuật ASEAN với mong muốn truyền cảm hứng cho mọi người bằng âm nhạc cổ điển.

Mobile Marketing:cách chọn xu thế

Với sự chuẩn bị tiềm lực lẫn công cụ chu đáo của các DN, từ những thương hiệu mới đến những đơn vị đã vững chân như thế, rõ ràng, thị trường quảng cáo tại Việt Nam sẽ có những bước thay đổi đáng kể trong thời gian tới. "Vấn đề là hiện chỉ mới có 20% dân số dùng smartphone.


Sự bùng nổ của thị trường điện thoại thông minh (smartphone) đã mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp (DN) trong việc tận dụng công cụ này để quảng bá thương hiệu, đồng thời mở ra con đường mới khai thác kinh doanh trên thị trường quảng cáo trong bối cảnh các loại hình truyền thống đang giảm dần sức hút.
Thay đổi hành vi người dùng
Báo cáo từ GFK cho thấy, chỉ trong vòng 1 năm, từ tháng 6/2012 đến tháng 6/2013, lượng smartphone bán ra trên thị đã tăng hơn gấp đôi, từ 192.000 chiếc lên gần 500.000 chiếc.

Ông Carl Ngô Nguyên Kha, Tổng giám đốc Mobiistar, cho biết, nếu như cuối năm 2012, kết quả nghiên cứu cho thấy người Việt dùng smartphone hệt như điện thoại cơ bản, chỉ để nghe, gọi, nhắn tin thì đến nay, thói quen này đã hoàn toàn thay đổi.Như vậy, số lượng smartphone đã chiếm đến 38% tổng số điện thoại di động bán ra hằng tháng. Không chỉ gây ngạc nhiên về mặt số lượng, thói quen sử dụng smartphone của người Việt cũng đã chuyển biến hết sức tích cực.
Khảo sát do Google thực hiện cho thấy, 70% người dùng sử dụng điện thoại smartphone để tìm kiếm tin tức, xem video, tải ứng dụng hay vào các mạng xã hội. Ngoài ra, smartphone còn là phương tiện hỗ trợ mua sắm khi có đến 60% số người được hỏi bày tỏ họ sử dụng để mua sản phẩm.
"Nếu số lượng smartphone mang lại nguồn lợi cho nhà sản xuất ra nó thì việc thay đổi thói quen sử dụng lại là cơ hội cho các DN khác bởi đây là công cụ quảng bá thời thượng và tốt nhất", ông Carl Ngô Nguyên Kha chia sẻ.
Đồng quan điểm, ông Phạm Tiến Thịnh, Giám đốc Điều hành Công ty CP Internet New Horizon, cho biết, cái lợi đầu tiên và dễ thấy nhất là ở lĩnh vực quảng bá thương hiệu.
Nghiên cứu khảo sát về hành vi của 1.062 người dùng các thiết bị di động do Decision Fuel và Inmobi thực hiện cho thấy: trong hơn 4,5 giờ cho các hoạt động giải trí, người dùng bỏ ra tới hơn 95 phút truy cập internet bằng các thiết bị di động. 

Cùng với việc thu hút được nhiều người dùng hơn, các thiết bị di động đang ngày càng là tác nhân mạnh mẽ ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng.

Hơn 53% lượng người sử dụng các thiết bị di động tham gia nghiên cứu trên đồng ý về điều này. Kết quả này cho thấy, tầm ảnh hưởng các thiết bị di động mạnh mẽ hơn cả truyền hình, báo giấy, quảng cáo trong cửa hàng và ngoài trời, radio.
Khảo sát từ New Horizon cho thấy, khác với việc bị làm phiền bởi tin nhắn rác, có đến 65% người dùng smartphone cho biết, họ không thấy phiền khi nhận những mẫu quảng cáo khi đang dùng những ứng dụng cũng như đang truy cập web trên smartphone.
Thời cơ quảng bá
Nhận thức rõ smartphone đang là "mảnh đất vàng" cũng là lúc các "emarketer" bắt đầu triển khai các dự án để kịp nắm lấy thời cơ. Ví dụ cụ thể nhất là trường hợp của Wada.
"Dù ra mắt cùng lúc khá nhiều ứng dụng cho người dùng như công cụ tìm kiếm, danh bạ web, trang tin tức, kho ảnh... trên smartphone nhưng cốt lõi của Wada vẫn hướng đến thị trường quảng cáo", ông Phạm Tiến Thịnh thừa nhận.
Để đẩy mạnh sự hiện diện của mình, bước đi đầu tiên của Wada là hợp tác với các nhà sản xuất thiết bị để tối ưu hóa các ứng dụng trên smartphone. Đây cũng là chiến lược của Lazada, trang bán hàng trực tuyến đang hoạt động khá rầm rộ hiện nay.
Theo ông Christopher B.Benselin, Giám đốc Điều hành và là sáng lập viên của Lazada, đơn vị này sẽ kết hợp chặt chẽ với những đơn vị sản xuất điện thoại, trước mắt là Mobiistar để tạo ra hệ sinh thái của thương mại điện tử trên smartphone, phục vụ cho việc quảng bá lẫn bán hàng của đơn vị này.
Không chỉ có những DN mới như Wada, Lazada, mà ngay cả DN lớn nhất trong ngành nội dung số là VNG cũng không bỏ qua cơ hội này khi liên kết độc quyền với Inmobi để cung cấp các giải pháp quảng cáo trên di động tại Việt Nam.
Hiện tại, Inmobi đang được xem là mạng quảng cáo di động độc lập lớn nhất thế giới, đạt được hơn 691 triệu người dùng trên 165 quốc gia. Chỉ tính riêng tại Việt Nam, lượng hiển thị banner quảng cáo khi khách hàng truy cập internet Inmobi đã đạt hơn 4 tỷ.
Với việc trở thành đối tác độc quyền của Inmobi, rõ ràng VNG đã khẳng định tham vọng trong việc chiếm lĩnh thị trường truyền thông đa phương tiện.
Bà Nguyễn Hoàng Quế Nga, Phó tổng giám đốc Phụ trách Kinh doanh Trực tuyến Công ty CP VNG, nhận xét, quảng cáo trên điện thoại thông minh là giải pháp tốt nhất hiện nay đối với các DN. Các nhà quảng cáo tại Việt Nam đã bắt đầu khẳng định sự hiện diện của mình trong lĩnh vực này.
Do đó, VNG sẽ tận dụng công nghệ của Inmobi như rich media (truyền thông đa phương tiện, có thể chèn video vào các banner quảng cáo), ad serving (dịch vụ quảng cáo), định dạng quảng cáo, tối ưu hoá và phân tích... Với hợp tác này, VNG có thể tiếp cận DN để rồi đưa thông điệp của họ thông qua điện thoại thông minh tiếp cận với khách hàng.
Với sự chuẩn bị tiềm lực lẫn công cụ chu đáo của các DN, từ những thương hiệu mới đến những đơn vị đã vững chân như thế, rõ ràng, thị trường quảng cáo tại Việt Nam sẽ có những bước thay đổi đáng kể trong thời gian tới. "Vấn đề là hiện chỉ mới có 20% dân số dùng smartphone.
Con số này đang và sẽ thay đổi mạnh mẽ trong tương lai gần. Đón đầu được nhu cầu này mới thực sự là thử thách của nhà sản xuất lẫn các đơn vị khai thác tiềm năng trên thiết bị di động", ông Carl Ngô Nguyên Kha khẳng định.

Top 10 thương hiệu làm thay đổi một thế giới

Câu chuyện lịch sử của Walmart được rất nhiều người biết đến, đó là khi Sam Walton mở ra một của hàng giảm giá với khẩu hiệu đơn giản mà đầy thu hút: "Giá thấp nhất -bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu!" Kể từ năm 1962, quy mô của Walmart ngày càng được mở rộng với sức tăng trưởng khiến bất cứ ai cũng phải ngưỡng mộ, tính đến nay hãng đã có 4.135 cửa hàng ở Mỹ và 6.288 cơ sở khác tại nước ngoài.


Luôn có rất nhiều thương hiệu lớn, nổi tiếng và giàu sức ảnh hưởng trên toàn cầu, song đây là 10 cái tên đã làm thay đổi cuộc chơi mãi mãi.
1. Amazon
Khi bỏ việc ở Wall Street năm 1994 và thành lập hãng bán lẻ trực tuyến mới, Jeff Bezos đã chọn cái tên Cadabra song lại khiến người ta nhầm lẫn nó với từ "Cadaver" (tử thi).
Sau đó, người đàn ông này đổi tên hãng thành Amazon, có chữ "A" đứng đầu - giúp hiển thị ưu tiên trên các kết quả tìm kiếm và chữ "z" để ngụ ý rằng hãng phục vụ mọi mặt hàng người ta cần. Ngày nay, tham vọng đó đã trở thành sự thật - dù là bạn cần một cuốn sách, chiếc máy cắt cỏ hay áo len cho chó cưng... tất cả đều có thể tìm thấy trên Amazon.
Theo đó, trang thương mại điện tử này nhận tới 35 đơn hàng mỗi giây, ở 14 quốc gia khác nhau và doanh thu tới 70 tỷ USD. Và chỉ một sự cố kéo dài 49 phút vào năm ngoái, nó cũng mất tới 6 triệu USD.
2. Facebook
Trái với suy nghĩ của nhiều người, Mark Zuckerberg là một sinh viên học ngành tâm lý ở Havard chứ không phải chuyên về khoa học máy tính. Tuy nhiên, điều đó không ngăn cản đế chế trị giá 113 tỷ USD của anh chàng gây ra những thay đổi mạnh mẽ tới cuộc sống của 650 triệu người dùng thường xuyên, bao gồm cả việc sinh hoạt, mua sắm, hẹn hò và nhiều mặt xã hội khác.
Bên cạnh đó, Facebook cũng khai sinh ra loại hình tiếp thị mới cho các doanh nghiệp, khi mà có tới 48% người trưởng thành ở độ tuổi 18-34 check Facebook mỗi sáng và khoảng 1 triệu đường link được chia sẻ cứ mỗi 20 phút.
3. Gap
Không thể tìm thấy một chiếc quần jeans phù hợp, Don Fisher đã nảy ra ý tưởng kinh doanh cửa hàng quần áo của riêng mình và đặt tên là Gap vào cuối thập niên 60. Tuy nhiên, ông không thể ngờ những chiếc quần giá cả phải chăng và đậm chất quần chúng ấy đã biến số cửa hàng hiện nay của hãng lên tới 3.400. Theo ước tính, nếu nối liền số cửa sổ của chúng, khoảng cách sẽ lên tới 10 dặm. Gap được xem là điểm đến lý tưởng cho người dân ở 90 quốc gia khác nhau nếu họ muốn tìm thấy thứ gì đó tử tế để mặc dù túi tiền không nhiều.
4. HBO
Vào một ngày mùa đông ảm đạm năm 1972, một kênh truyền hình có tên Home Box Office (HBO) chính thức ra mắt. Tuy nhiên, thời gian đầu, nó không thu hút được nhiều sự chú ý. Mọi thứ chỉ trở nên khả quan hơn vào năm 1975, khi trận đấu nảy lửa giữa võ sĩ Ali và Frazier được lên sóng, khiến rất nhiều khán giả bỗng muốn có HBO trên danh sách các kênh truyền hình của mình.
Kể từ đó, với những tên tuổi đầy sức hút như series Sex and the City, The Sopranos hay như hiện tại là Boardwalk Empire và Game of Thrones... HBO trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu với khán giả truyền hình. Thậm chí, câu khẳng định "Đó không phải là truyền hình, đó là HBO" cũng không hề quá đáng, nhất là với 114 triệu thuê bao của HBO trên toàn cầu.
5. McDonald's
Với khoảng 34.000 cửa hàng trên toàn thế giới, không có gì phải nghi ngờ về mức độ ảnh hưởng mà McDonald's tạo nên. Ngay cả khi bạn chưa từng ăn ở cửa hàng của hãng, bạn vẫn bị tác động một cách gián tiếp: Đó là khi các thực đơn được tiêu chuẩn hóa, phong cách tự phục vụ, nhượng quyền thương mại, văn hóa doanh nghiệp... đều trở nên phổ biến cùng với sự mở rộng quy mô của McDonald's.
Ngày nay, với khoảng 1,8 triệu lao động ở 119 quốc gia khác nhau, McDonad's đã trở thành một trung tâm thương mại toàn cầu đúng nghĩa mà tạp chí The Economist thậm chí dùng cả chiếc Big Mac để định giá của các đồng ngoại tệ so với USD.
6. Starbucks
Khởi đầu với một cửa hàng nhỏ ở Seattle (Mỹ) năm 1971, ngày nay Starbucks đã có doanh thu tới 13,3 tỷ USD thông qua 11.000 cơ sở tại xứ cờ hoa và 17.500 cửa hàng khác tại 61 quốc gia khác nhau. Có thể nói, Starbucks đã định nghĩa lại cà phê khi rất nhiều người sẵn sàng bỏ ra tới vài USD cho mỗi tách họ uống.
Những con số thống kê còn ấn tượng hơn thế khi trung bình, mỗi khách hàng ghé vào cửa hàng của Starbucks 6 lần mỗi tháng, với 20% những khách hàng thường xuyên nhất con số lên tới 16 lần - nghĩa là đó gần như trở thành thức uống mỗi ngày của họ. Bên cạnh đó, Starbucks cũng rất được lòng nhân viên khi bỏ ra tới 300 triệu USD mỗi năm để áp dụng các tiêu chuẩn chăm sóc sức khỏe cho người lao động.
7. iPhone
Khoảnh khắc CEO huyền thoại Steve Jobs gọi điện đặt hàng 4.000 tách cà phê của Starbucks trên sân khấu ở San Francisco năm 2007 sẽ chẳng bao giờ phai mờ trong tâm trí những người yêu công nghệ. Bởi đó là ngày phiên bản iPhone đầu tiên ra mắt - sản phẩm được tạp chí Time khẳng định như: "Chiếc điện thoại đã thay đổi những chiếc điện thoại mãi mãi". Kể từ đó đến nay,

iPhone vẫn luôn là chú dế được nhắc đến nhiều nhất và cũng ghi nhận doanh số bán hàng không thể ấn tượng hơn với 380 triệu sản phẩm. Những kỷ lục bán hàng cứ liên tục bị phá vỡ qua mỗi năm, và người ta hình thành thói quen trông ngóng những tính năng mới sẽ xuất hiện trên các phiên bản được Apple ra mắt. Còn các đối thủ như Samsung hay Microsoft, sẽ còn rất nhiều việc họ phải làm để vượt qua được model táo khuyết này.
8. Visa

Năm 1958, Bank of America tung ra chiếc thẻ tín dụng đầu tiên BankAmericard với hạn mức 300 USD và làm từ giấy. Khách hàng ngay lập tức yêu thích nó và đến năm 1974, chiếc thẻ mở rộng phạm vi thanh toán ra toàn cầu. Lúc này, nó cần một cái tên mới "đại chúng" và "quốc tế" hơn, và thế là Visa ra đời.
Theo ước tính, ngày nay có khoảng 278 triệu thẻ Visa tại Mỹ, 522 triệu thẻ ở các nước khác và hệ thống của nó xử lý khoảng 30.000 thanh toán mỗi giây với số tiền 6,7 ngàn tỷ USD mỗi năm. Chắc chắn, ngày mới bắt đầu, ngay cả Bank of America cũng không thể nghĩ đến việc họ đã khiến cả thế giới mua sắm thông qua những chiếc thẻ nhựa.
9. Viagra
Khi còn trẻ, bạn có thể cười khi nghĩ đến điều này song có tới 18 triệu đàn ông mắc phải chứng rối loạn cương dương khi quá 20 tuổi - tức là khoảng 1 trong mỗi 10 người. Trước năm 1998, không có nhiều biện pháp khắc phục triệu chứng này, song mọi thứ đã thay đổi khi Viagra được tìm thấy. Đó là một trong những thử nghiệm thất bại của ông trùm dược phẩm Pfizer trong việc điều trị tăng huyết áp song lại là tiếng nhạc từ thiên đường với những quý ông bị bất lực.
Kết quả là Viagra trở thành một trong những loại thuốc thành công nhất lịch sử Pfizer với hơn 40 triệu đơn thuốc và khoảng 2 tỷ USD đem về mỗi năm. Nó cũng trở thành loại thuốc bị làm giả nhiều nhất và được săn đón ở bất cứ đâu, từ các nước thuộc thế giới thứ ba đến những quốc gia phát triển nhất.
10. Walmart
Câu chuyện lịch sử của Walmart được rất nhiều người biết đến, đó là khi Sam Walton mở ra một của hàng giảm giá với khẩu hiệu đơn giản mà đầy thu hút: "Giá thấp nhất -bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu!" Kể từ năm 1962, quy mô của Walmart ngày càng được mở rộng với sức tăng trưởng khiến bất cứ ai cũng phải ngưỡng mộ, tính đến nay hãng đã có 4.135 cửa hàng ở Mỹ và 6.288 cơ sở khác tại nước ngoài.
Theo ước tính, có tới 245 triệu người ghé vào các cửa hàng của Walmart mỗi tuần, với doanh thu được công bố năm 2013 là 466 tỷ USD. Không có chuỗi bán lẻ nào trên thế giới lớn bằng Walmart và nhà văn Jarod Kintz từng hài hước phát biểu: "Giống như Alexander đại đế hay Caesar, ta sinh ra để chinh phục thế giới, nhưng trước tiên ta phải ghé qua Walmart để trang bị cái đã".

Cuộc"Tình đầu" nhớ và quên...

Là người đến sau nhưng có vẻ PhinDeli đã có màn ra mắt như một "người tình đầu tiên" đối với nước Mỹ. Tình yêu đầu tiên luôn được xem là đầu tiên, nhưng thương hiệu xuất hiện đầu tiên không dễ trở thành đầu tiên đối với khách hàng. Cần có lời tỏ tình ngọt ngào, rất ngọt ngào, thương hiệu mới có thể trở thành "đầu tiên" trong tâm trí khách hàng.


Cái gì đầu tiên cũng thường được nhớ lâu. Thương hiệu đầu tiên cũng vậy, nhưng không phải thương hiệu đầu tiên nào cũng được khách hàng đón nhận. Rất nhiều thương hiệu xuất hiện đầu tiên trên thị trường và sau đó lặng lẽ biến mất.
Không phải vì thương hiệu đầu tiên lúc nào cũng tốt hơn thương hiệu ra sau nên thường khó quên.
La Vie là nước khoáng đóng chai đầu tiên, nó chẳng có gì vượt trội so với những Aquafina hay Thạch Bích về chất lượng, điểm mạnh duy nhất của La Vie là thương hiệu đầu tiên. Khi một người nói "cho tôi một chai La Vie", tức là đang gọi một chai nước khoáng nói chung. La Vie đã trở thành tên đại diện cho một chủng loại sản phẩm.
Không phải tình yêu đầu tiên nào cũng đi đến hôn nhân. Không phải thương hiệu đầu tiên nào cũng được khách hàng đón nhận. Rất nhiều thương hiệu xuất hiện đầu tiên trên thị trường và lặng lẽ biến mất.
Năm 2004, Tập đoàn Tân Hiệp Phát đầu tư 20 triệu USD sản xuất bia tươi đóng chai cao cấp mang tên Laser. Gần 3 triệu USD được dành riêng cho quảng cáo "bia tươi đóng chai đầu tiên tại Việt Nam". Chỉ sau một năm ra mắt, Laser đã biến mất khỏi thị trường.
Thất bại này có thể dự đoán trước: Thời điểm đó vẫn còn khá sớm để giới thiệu ý tưởng "bia tươi đóng chai" cao cấp tới thị trường mà hầu hết những người uống bia đều nghĩ bia hơi hay bia tươi chỉ là loại bia rẻ tiền trong các nhà hàng, quán nhậu bình dân.
Ngoài ra, Laser lại được định giá rất cao, kể cả khi so sánh với các nhãn hiệu bia nổi tiếng thế giới (bia chai và bia lon) như Heineken hay Tiger.
Trong những năm gần đây, có một vài thương hiệu cà phê đóng lon ra mắt thị trường Việt Nam. Đó là Birdy (do Ajinomoto giới thiệu năm 2008), Cafe Vip (do Tân Hiệp Phát giới thiệu năm 2009) và cà phê đóng lon Nestle (2009).
Dù những thương hiệu này vẫn may mắn "sống sót" trên thị trường, nhưng chúng đang rất gian nan để tồn tại với thách thức đến từ văn hóa uống cà phê truyền thống của người Việt Nam.
Ý tưởng sản phẩm mới mang tính đột phá nhưng chưa hội đủ điều kiện về "sự phù hợp" và "khác biệt cạnh tranh" so với sản phẩm đã tồn tại trước đó thì rất khó tồn tại. Người tiêu dùng luôn tò mò trước những thứ mới lạ nhưng không có nghĩa họ sẵn lòng đón nhận tất cả.
Trong thời đại "ngập lụt thông tin" như hiện nay, tâm trí con người chỉ chấp nhận những ý tưởng sản phẩm mới thích ứng với kỳ vọng đã có sẵn trong suy nghĩ của họ.
Khách hàng thường có xu hướng tiếp nhận những cái "đầu tiên" nhưng vẫn phải "quen thuộc" và hữu ích thay vì những sản phẩm lạ lẫm và không mấy thuận tiện.
Tình yêu đầu tiên dễ được đón nhận, không tính toán và rất trong sáng. Đâu có lựa chọn thứ hai cho tình đầu. Thương hiệu đầu tiên không có được may mắn như vậy. Khách hàng sẽ cân nhắc và tính toán thiệt hơn. Họ có rất nhiều lựa chọn khác nhau.
Trung Nguyên ngắm nghía thị trường nước Mỹ đã lâu. Trên mặt trận truyền thông, Trung Nguyên khá thành công khi là người đầu tiên "tấn công" khá ồn ào người khổng lồ Starbucks bằng một loạt phát ngôn gây tranh cãi của Chủ tịch Đặng Lê Nguyên Vũ.
Không chỉ báo chí trong nước, Trung Nguyên cũng đã xuất hiện khá nhiều trên các đầu báo tại Mỹ. Ông Vũ nói: "Starbucks không còn giữ được bản sắc riêng như thời kỳ đầu nữa.
Họ sắp hết thời rồi, và chúng tôi sẽ là những người thay thế”. Người Mỹ có thể sẽ đón nhận nó như một lời tuyên chiến đầu tiên hơn là lời tỏ tình đầu tiên.

"Ai sinh ra cũng đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho ta những quyền bất khả xâm phạm. Đó là quyền được sống, quyền được hưởng thụ và quyền được... thưởng thức cà phê.Những lời đao to búa lớn dễ gây chú ý với dư luận, nhưng để đi vào lòng người, một câu chuyện hay và sáng tạo về truyền thông sẽ thuyết phục hơn. Cà phê PhinDeli là một dẫn chứng.
Hôm nay chúng tôi chính thức giới thiệu "Tuyên ngôn cà phê Việt" ngay trên thị trấn Buford ở nước Mỹ, do chính người Việt sở hữu. Và hôm nay chúng tôi cũng chính thức đổi tên thị trấn Buford với 147 năm lịch sử thành thị trấn PhinDeli".
Trên đây là trích dẫn "Tuyên ngôn cà phê Việt trên đất Mỹ” của PhinDeli. Tham vọng ngang ngửa... Trung Nguyên, nhưng cách thể hiện có nét gì đó hóm hỉnh hơn, sáng tạo hơn, nhất là ý tưởng bắt chước cách đặt vấn đề trong tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ.
PhinDeli đã biết phát huy thương hiệu rất hay: Doanh nhân Việt Phạm Đình Nguyên chiến thắng trong cuộc đấu giá nghẹt thở giành quyền sở hữu thị trấn Buford cách đó chưa lâu, nay ông đổi tên thành thị trấn PhinDeli với tham vọng đưa cà phê Việt vào đất Mỹ. Reuters đã có bình luận: "Tái sinh thị trấn một công dân ở Wyoming thành trung tâm cà phê Việt".
Là người đến sau nhưng có vẻ PhinDeli đã có màn ra mắt như một "người tình đầu tiên" đối với nước Mỹ. Tình yêu đầu tiên luôn được xem là đầu tiên, nhưng thương hiệu xuất hiện đầu tiên không dễ trở thành đầu tiên đối với khách hàng. Cần có lời tỏ tình ngọt ngào, rất ngọt ngào, thương hiệu mới có thể trở thành "đầu tiên" trong tâm trí khách hàng.
Và khác với nhiều chuyện tình đầu tiên, thương hiệu đầu tiên khi thành công thường đi đến... hôn nhân. Khi đã kết "mối tình đầu" với thương hiệu nào đó, khách hàng sẽ rất trung thành, gần như là mãi mãi.

Ngành Marketing sản phẩm xanh

Các siêu thị thậm chí phát miễn phí túi mua hàng tái sử dụng, thế nhưng thực tế hiếm thấy ai dùng những chiếc túi ấy thay cho túi nylon thông thường. Một doanh nghiệp cung cấp máy nước nóng năng lượng mặt trời vì vậy có thể khoanh vùng những khu vực có mật độ xây dựng thưa và thấp, dễ dàng đón ánh nắng mặt trời, sau đó đặt ưu tiên từ cao đến thấp theo thu nhập của dân cư vì việc tác động đến nhu cầu của khách hàng sẽ dễ dàng hơn khi họ có điều kiện kinh tế để sử dụng sản phẩm.


Gắn liền với sự phát triển của đời sống xã hội, việc kinh doanh các sản phẩm xanh đã được các doanh nghiệp chú ý từ lâu. Nhiều doanh nghiệp thực sự tâm huyết và chuyên tâm với việc cho ra đời những sản phẩm không gây hại đến môi trường cũng như sức khỏe con người, cũng không thiếu những doanh nghiệp bổ sung vào danh sách các sản phẩm của mình một vài lựa chọn “xanh” nhằm nâng cao hình ảnh doanh nghiệp.

Dù mục đích có là gì đi nữa, kinh doanh và marketing dạng sản phẩm đặc biệt này chưa bao giờ dễ dàng. Nhà quản trị luôn phải đau đầu với bài toán cân đối cung cầu, lợi nhuận dĩ nhiên còn khiêm tốn. “Thói quen khó bỏ” - câu nói này có lẽ dễ giải thích nhất cho những khó khăn trong việc kinh doanh và marketing sản phẩm xanh.

Một người chuộng xài túi nylon cũng sẽ khó tin họ đã đóng góp vào nguy cơ lụt lội ra sao. Các sản phẩm xanh khó đi vào cuộc sống còn vì hiệu quả sử dụng hạn chế, nhất là khi đem so sánh chúng với các sản phẩm truyền thống - vốn có những lợi điểm quá rõ rệt. Ford tham gia vào thị trường “xanh” từ rất sớm với dòng xe Th!nk chạy điện, nhưng thất bại vì không ai muốn cứ sau mỗi 50 dặm lại phải chờ đến sáu tiếng đồng hồ sạc pin.Từ khởi đầu là tận dụng nguồn tài nguyên, năng lượng tưởng chừng vô tận của thiên nhiên để cuộc sống trở nên dễ dàng hơn, con người dần quen với việc “vô tư” khai thác chúng, đến khi màu xanh bắt đầu xuất hiện những chấm đen thì việc thay đổi tư duy, ý thức đã trở nên khó. Một người sở hữu chiếc xe máy, hoặc xe hơi, sẽ khó hình dung lượng khí thải từ chiếc xe của mình có thể góp phần làm ô nhiễm bầu không khí như thế nào.
Nói một cách ngắn gọn, chiến lược marketing sản phẩm xanh sẽ khác nhau ở mỗi nhóm sản phẩm khác nhau, nhưng tư duy, ý thức của người tiêu dùng là yếu tố đáng cân nhắc, vì chính nó dẫn dắt đến nhu cầu “xanh”.
Đối tượng khách hàng: cần đối diện với một sự thật không mấy lạc quan là số người có ý thức hay thực sự quan ngại về những vấn đề về môi trường còn tương đối nhỏ. Chiến lược marketing nếu hướng tới số đông sẽ chỉ khiến doanh nghiệp đuối sức. Thử nhìn lại những nỗ lực của doanh nghiệp Việt Nam trong việc kêu gọi, hưởng ứng tiêu dùng xanh sẽ thấy rõ điều này.
Các siêu thị thậm chí phát miễn phí túi mua hàng tái sử dụng, thế nhưng thực tế hiếm thấy ai dùng những chiếc túi ấy thay cho túi nylon thông thường. Một doanh nghiệp cung cấp máy nước nóng năng lượng mặt trời vì vậy có thể khoanh vùng những khu vực có mật độ xây dựng thưa và thấp, dễ dàng đón ánh nắng mặt trời, sau đó đặt ưu tiên từ cao đến thấp theo thu nhập của dân cư vì việc tác động đến nhu cầu của khách hàng sẽ dễ dàng hơn khi họ có điều kiện kinh tế để sử dụng sản phẩm.
Thông điệp chuyển tải: các sản phẩm xanh đa số còn nhiều đặc điểm bất lợi như giá cao, bất tiện, hay hiệu quả sử dụng thấp. Thông điệp chuyển đến người tiêu dùng cần nhấn mạnh vào những ưu điểm của sản phẩm, cụ thể sẽ đem lại gì cho họ. Cần phải thẳng thắn nhận định rằng con người, chí ít cho đến thời điểm hiện tại, dù ý thức đến vấn đề “xanh”, vẫn sẽ quan tâm trước hết đến việc “tôi được gì”, sau đó mới đến thiên nhiên, môi trường chung được gì.
Sức mạnh tổng hợp: những nỗ lực đơn lẻ để giải quyết một vấn đề lớn liên quan đến ý thức hệ dễ khiến chúng ta hình dung đến hình ảnh “châu chấu đá xe”. Vậy nên, thay vì chật vật một mình, các doanh nghiệp có kinh doanh sản phẩm xanh nên tìm cách phối hợp với nhau trong việc tác động đến ý thức, từ đó là nhu cầu của người tiêu dùng.
Sự tham gia của Nhà nước cũng đóng vai trò khích lệ quan trọng. Như Tập đoàn Điện lực từng hỗ trợ các đối tượng kể cả cá nhân lẫn doanh nghiệp một phần chi phí khi lắp đặt hệ thống nước nóng năng lượng mặt trời. Tiếc là những chương trình như thế chưa nhiều và chưa được phổ biến sâu rộng. Kinh doanh sản phẩm xanh không dễ vì chi phí sản xuất thường cao trong khi hiệu quả còn hạn chế.
Tuy vậy, nhiều người vẫn lạc quan, như Israel vẫn kiên trì với mơ ước thay thế hoàn toàn xe hơi truyền thống trong nước bằng xe chạy điện. Và trong khi chờ đợi ý thức về môi trường của con người khá hơn lên, mở rộng đường hơn cho các sản phẩm xanh, chiến lược marketing cho các sản phẩm này cũng cần được thực hiện một cách kiên trì và chuyên biệt hơn các sản phẩm truyền thống.

10 thương hiệu đang dần đánh mất ánh hào quang


Nguyên nhân: Máy tính bàn không còn chiếm ưu thế ở thị trường thiết bị số ở thời điểm hiện tại, khiến vị thế của nhà sản xuất chip hàng đầu thế giới đang bị lung lay dữ dội.

Nhiều thương hiệu lớn của thế giới không theo kịp thị trường đang dần trở nên đuối sức.
Một thời, những thương hiệu như Nokia, Canon, Sony,… là "mặt trời chính ngọ". Nhưng, theo thời gian và thời cuộc, vì nhiều lý do khác nhau họ đang dần đánh mất hào quang của mình.
Nokia
Giá trị thương hiệu: 7,44 tỉ USD.
Sụt giảm so với năm trước: 65%.
Nguyên nhân: Thất bại khi phát triển dòng smartphone.
Morgan Stanley
Giá trị thương hiệu: 5,72 tỉ USD
Sụt giảm : 21%
Nguyên nhân: Tổng thu nhập của Morgan Stanley bị giảm thê thảm do sự tín nhiệm của người dân với ngân hàng ngày càng thấp.
MTV của Viacom
Giá trị thương hiệu: 4,98 tỉ USD
Sụt giảm: 12%
Nguyên nhân: Tỉ suất người theo dõi của kênh MTV bị sút giảm nghiêm trọng sau khi chương trình đình đám “Jersey Shore” bị dính nhiều “phốt”. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh khốc liệt của các kênh âm nhạc trực tuyến cũng khiến MTV lâm vào thế khó.
Avon
Giá trị thương hiệu: 4,61%
Sụt giảm: 11%
Nguyên nhân: Lượng hàng bán ra đã sụt giảm trong nhiều năm. Avon tại Trung Quốc bị điều tra vì nghi ngờ hối lộ. Năm 2012, Avon cũng đã rút khỏi thị trường Việt Nam.
Dell
Giá trị thương hiệu: 6,84 tỉ USD
Sụt giảm: 11%
Nguyên nhân: Chậm hơn các đối thủ khác khi phát triển cũng như định hướng các dòng sản phẩm sau máy tính bàn.
Canon
Giá trị thương hiệu: 11 tỉ USD
Sụt giảm: 9%
Nguyên nhân: IDC dự đoán rằng, thị trường máy ảnh số sẽ giảm 29% vì người tiêu dùng sẽ dùng smartphone của họ để chụp ảnh thay vì máy ảnh.
Sony
Giá trị thương hiệu: 8,4 tỉ USD
Sụt giảm: 8%
Nguyên nhân: Quá tự mãn khiến chất lượng đi xuống và dự đoán sai xu hướng thị trường, bị Samsung qua mặt ở dòng sản phẩm LCD.
Intel
Giá trị thương hiệu: 37,3 tỉ USD
Sụt giảm: 5%
Nguyên nhân: Máy tính bàn không còn chiếm ưu thế ở thị trường thiết bị số ở thời điểm hiện tại, khiến vị thế của nhà sản xuất chip hàng đầu thế giới đang bị lung lay dữ dội.
Nescafé
Giá trị thương hiệu: 10,6 tỉ USD
Sụt giảm: 4%
Nguyên nhân: Việc hai sản phẩm của Nescafe là chuỗi cửa hàng Green Mountain’s K-Cups và máy pha cà phê Nespresso không thành công, đã ảnh hưởng đến giá trị của thương hiệu.
HP
Giá trị thương hiệu: 25,8 tỉ USD
Sụt giảm: 1%
Nguyên nhân: Thị trường PC đang đến hồi cáo chung khiến sản phẩm chủ lực của HP trở nên lạc hậu. Việc thay đổi vị trí lãnh đạo vẫn chưa giúp giải quyết được vấn đề.