Hiển thị các bài đăng có nhãn - Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn - Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2016

Running Man - quy luật "đầu tiên"

Sẽ không ít fan bóng đá mỗi năm đến Hè lại đỏ mắt trông mong chuyên cơ sang trọng của Man United, Arseanl, Chelsea hay Liverpool. Họ chắc hẳn đang rắp tâm làm những "Running Man" phiên bản XYZ để có dịp một bước lên tiên. Cứ mơ mộng thôi các chàng trai. Nhưng tại xứ sở là vùng trũng bóng đá thế giới này, chúng ta cũng nên học kiên nhẫn với những giấc mơ.


Chiếc chuyên cơ chở GS. Wenger và cầu thủ Arsenal đã bay đi từ lâu. Chỉ có người ở lại vẫn đang "chạy" vì sung sướng từ hiệu ứng do "Running Man" mang lại.
Trên trang Goal.com phiên bản tiếng Anh đưa tin về "Running Man", cho biết chỉ trong một thời gian ngắn, Vũ Xuân Tiến đã trở thành một cái tên đáng chú ý và nhận được rất nhiều sự tìm kiếm trên Google cũng như trên internet (hơn 20 triệu kết quả). Mát mặt quá. Thế này thì tội gì không "nổ” nhỉ?
"Giờ thì Việt Nam không còn cái tên xa lạ với những thương hiệu hàng đầu... Và giờ đây cổ động viên Việt Nam, bóng đá Việt Nam đã trở nên có giá” (Báo Bóng Đá). "Thật tự hào bóng đá Việt Nam", "cổ động viên Việt Nam cuồng nhiệt nhất thế giới", "Arsenal choáng vì tình yêu bóng đá của người Việt"...
Nhà có cỗ đón khách đến chơi thì cứ bốc đồng chút cho vui. Nhưng nổ tưng tưng thế này thì hàng xóm cười cho. Năm nào những Man United, Chelsea hay Arsenal chẳng bay show sang Thái Lan, Singapore, Malaysia hay Indonesia. Cùng thời gian Arsenal sang Việt Nam, dân Thái còn được xem cả Man United và Chelsea trình diễn lần lượt chỉ trong vòng một tuần.
Vừa thấy mấy tờ Mirror, Telegraph hay The Guardian bên Anh đưa tin về "Running man" mà đã tự nhận "bóng đá Việt Nam trở nên có giá” thì đúng là quá đà. Nếu chúng ta "có giá” thì nền bóng đá của mấy anh láng giềng bao năm nay tăng giá đến đâu?
Thật khổ! Có cảm giác Việt Nam ta như gái quê miền sơn cước. Bao năm nay quen giao du với trai làng, nay bỗng dưng được một chàng trai thành thị ở tận bên Anh về thăm chơi mấy ngày nên vui sướng râm ran mãi không thôi. Mà trai thành thị nó dẻo mồm lắm, sang Indonesia khen cuồng nhiệt, sang Nhật khen shusi ngon, sang Thái khen gái Thái cười duyên...
Lợi ích mang lại của quy luật "The first" (đầu tiên) trong marketing giờ đây được ngài giáo sư kinh tế Wenger ngồi rung đùi khai thác. "Pháo thủ” là người đầu tiên "khai hỏa" vào một thị trường màu mỡ (của tương lai).
Mấy ông Man United lắm fan, Chelsea nhiều tham vọng và Man City lắm tiền cứ việc "ngửi khói" nhé. "Running Man" là câu chuyện thương hiệu được con mắt chuyên nghiệp tinh đời Wenger dựng lên để khuếch trương thanh thế cho Arsenal. Việt Nam vô tình được thơm lây thôi. Đừng vì nó mà quên đi trình độ thật.
Sẽ không ít fan bóng đá mỗi năm đến Hè lại đỏ mắt trông mong chuyên cơ sang trọng của Man United, Arseanl, Chelsea hay Liverpool. Họ chắc hẳn đang rắp tâm làm những "Running Man" phiên bản XYZ để có dịp một bước lên tiên. Cứ mơ mộng thôi các chàng trai. Nhưng tại xứ sở là vùng trũng bóng đá thế giới này, chúng ta cũng nên học kiên nhẫn với những giấc mơ.
Nếu năm sau "người ta" chẳng thèm đến thì cũng không nên thất vọng. Vì trong mắt những nhà quản lý marketing sừng sỏ toàn cầu, thị trường Việt Nam vẫn như thân phận của gái quê - chưa đủ hấp dẫn để dụ dỗ trai thành thị ghé chơi thường xuyên. Chỉ có điều này sẽ còn là "mồi câu" kêu gọi khách VIP đến thăm: kịch bản cho một Running girl sexy hơn, tươi trẻ hơn.

Có 3 điều Big Data giúp PR trở thành người hùng

Big Data tạo ra một kho thông tin kịp thời về thị trường với sự phân tích các dữ liệu lớn khiến thật dễ dàng để phát hiện ra các xu hướng mới trong cái cách mà mọi người nói chuyện với nhau về sản phẩm, dịch vụ, ngành kinh doanh của bạn. Với các dữ liệu này, bạn có thể điều chỉnh sản phẩm, dịch vụ và thông điệp truyền thông của mình, sao cho giảm thiểu các mặt tiêu cực và tăng cường các điểm tích cực.

Công nghệ xử lý dữ liệu lớn (Big Data) là một thuật ngữ hết sức thông dụng ở thời điểm này bởi nhiều lý do vô cùng chính đáng.
Cũng có thể như nhiều người, bạn không hiểu Big Data là gì, từ đâu đến và có lợi ích gì cho bạn. Nhưng theo tờ PRDaily, thực tế, công nghệ xử lý dữ liệu lớn là chìa khóa để đưa PR đi từ chuyên nghiệp tới người hùng.
Để sống sót được trong thời đại kỹ thuật số – thời kỳ có trữ lượng thông tin khổng lồ về người dùng trên Internet, bạn cần hiểu được đầu vào và đầu ra của thông tin. Từ đó, bạn có thể cá nhân hóa, riêng biệt hóa thông điệp truyền tải tới từng khách hàng và bạn bè của họ.
Big Data – đơn thuần là dữ liệu lớn. Hàng ngày trong cuộc sống thực, có rất nhiều cuộc hội thoại bình luận về sản phẩm dịch vụ nhưng thật khó để thu thập hết được chúng, có quá nhiều yếu tố cách trở và gây nhiễu.
Tuy nhiên, khi mà Internet, mạng xã hội, diễn đàn,… đã trở thành cuộc sống thứ 2 của con người, một hướng đi mới được đề xuất cho lãnh đạo doanh nghiệp; đó là hãy làm PR – Marketing với công cụ Big Data. Người ta nói thông tin chính là tiền bạc.
Bởi vậy, Big Data là nguồn hết sức giá trị, giúp các chuyên viên PR tăng tốc bước vào một thế giới mới đầy thú vị, có được những hiểu biết sâu sắc hơn về người tiêu dùng. Với công cụ Big Data này, người làm Marketing có thể thông tin và định hướng khách hàng theo mục đích riêng của công ty.
3 điều mà dữ liệu lớn (Big Data) cải thiện hiệu quả PR của bạn:
1. Big Data xác định những người tạo ra ảnh hưởng
Các dữ liệu thời gian thực (Real-time Data) trên mạng xã hội có thể giúp bạn tìm ra những ai có tầm quan trọng, ảnh hưởng trong lĩnh vực bạn kinh doanh. Ai là người hay post, hay share các thông tin về sản phẩm, công việc kinh doanh hoặc thông tin về ngành thường xuyên nhất?
Thu hút sự chú ý của những người có tầm ảnh hưởng trên mạng xã hội, bạn sẽ nắm rõ những điều diễn ra xung quanh công ty của mình hơn.

2. Big Data giải quyết các rào cản với người mua
Một phần quan trọng của PR ngày nay là xây dựng hoặc đẩy mạnh việc phát triển cộng đồng khách hàng và khách hàng tiềm năng thông qua mạng xã hội. Đó là lý do tại sao bạn cần trả lời các câu hỏi, đóng góp vào các cuộc thảo luận và giúp công chúng hiểu được các khái niệm và các vấn đề có liên quan đến sản phẩm của bạn.
Big Data giúp bạn tìm ra những điều mà khách hàng mong muốn biết và những vấn đề nào tạo ra được sự trung thành suốt đời của họ. Từ đó, bạn có thể giải quyết các khoảng cách giữa bạn với người tiêu dùng.
3. Điều chỉnh thông điệp và cách truyền thông điệp
Big Data tạo ra một kho thông tin kịp thời về thị trường với sự phân tích các dữ liệu lớn khiến thật dễ dàng để phát hiện ra các xu hướng mới trong cái cách mà mọi người nói chuyện với nhau về sản phẩm, dịch vụ, ngành kinh doanh của bạn. Với các dữ liệu này, bạn có thể điều chỉnh sản phẩm, dịch vụ và thông điệp truyền thông của mình, sao cho giảm thiểu các mặt tiêu cực và tăng cường các điểm tích cực.
Kiến thức là sức mạnh và dữ liệu lớn đại diện cho dòng chảy kiến thức đó. Nếu được khai thác một cách hợp lý, big data sẽ giúp bạn tiếp cận khách hàng với các thông điệp chính xác và mọi lúc, mọi nơi.

“Đàn ông đích thực” cũng bị long đong


Sau khi về với Mario, doanh thu thuần của ICP tăng đáng kể. Năm 2011 là 550 tỉ đồng, tăng 45% so với năm 2010 và lợi nhuận cũng tăng gấp 4 lần so với năm trước. Năm 2012 tăng trên 20% so với năm 2011. Đặc biệt, năm 2012 cũng đánh dấu một sự kiện khá thành công của ICP là các sản phẩm của công ty đã được xuất khẩu sang Malaysia và một số quốc gia châu Á và châu Phi khác. Ông Công cho biết: “Mario đã giúp việc quản trị và điều hành công ty tập trung hơn so với thời gian trước”. Có nghĩa là, sau khi về với Mario, ICP có vẻ được nhiều hơn mất.

Tiến sĩ Phan Quốc Công, Tổng giám đốc ICP, được giới kinh doanh đánh giá cao khi “quốc tế hóa” cái tên cho nhãn hàng thuần Việt của mình: X-Men. Thậm chí, 7 năm sau, khi thương hiệu này được bán đến 85% cho Tập đoàn hàng tiêu dùng và dịch vụ Mario (Ấn Độ), nhiều người mới vỡ lẽ rằng: X-Men là thương hiệu nội địa!
Kỳ tích khó lặp lại
Sau 2 năm thành lập, năm 2003, Công ty hàng gia dụng quốc tế (ICP) tung ra sản phẩm dầu gội dành cho phái mạnh X-Men. Với chiến dịch marketing rầm rộ, X-Men nhanh chóng qua mặt nhiều công ty đa quốc gia và trở thành nhãn hiệu dầu gội số 1 dành cho nam giới. Đây cũng là lần đầu tiên, giới tiêu dùng trong nước có thêm khái niệm, có một sản phẩm dầu gội dành riêng cho nam giới chứ không phải “dùng ké” của nữ giới như nhiều người vẫn quen thế. Trước đó, Unilever hay P&G đã có những sản phẩm dầu gội dành cho nam nhưng chưa được người tiêu dùng chú ý lắm. Chưa hết, sau này, khi
X-Men phát triển nhiều sản phẩm chăm sóc toàn diện cho nam giới như: sữa tắm, xà bông, sữa rửa mặt… đều được đón nhận một cách tích cực.
Thành công này được ông Công lý giải: “Chiến lược đúng, sản phẩm có sự khác biệt cao, ra đời đúng thời điểm và tham gia vào phân khúc thị trường đủ lớn”. Sự khác biệt và tư duy sáng tạo được ông Công nhấn mạnh là 2 yếu tố tạo nên sự tăng trưởng bền vững của một doanh nghiệp.
Trước và sau khi có X-Men, ICP tung ra một số sản phẩm như nước rửa rau, nước tẩy và cả dầu gội dành cho phái nữ nhưng đều không vượt qua “đỉnh” của X-Men. Năm 2006, Quỹ đầu tư Mekong Capital đã đầu tư vào ICP với tỷ lệ sở hữu 26%. Sau đó 2 năm, năm 2008, BankInvest, một trong những tập đoàn quản lý tài sản lớn nhất khu vực Bắc Âu, cũng tham gia góp vốn vào ICP, tỷ lệ sở hữu được chia 21% của Mekong Capital và 21% của BankInvest. Đây là giai đoạn có thể xem như phát triển nóng của ICP và thể hiện rõ nhiều tham vọng của chủ doanh nghiệp.
Giữa năm 2007, ICP tiếp tục góp vốn vào Công ty Smart Tailor ra mắt sản phẩm thời trang công sở cao cấp dành cho nam giới gọi là X-series. Tuy nhiên, chỉ 6 tháng sau đó, ICP đã phải rút vốn khỏi công ty này, showroom của X-series cũng đóng cửa, ngưng hoạt động bởi thời điểm đó, cơn lốc khủng hoảng kinh tế khiến ngành bán lẻ gặp nhiều khó khăn. Chưa hết, đầu 2009, ICP lại tiếp tục lấn sân sang lĩnh vực thực phẩm, thỏa thuận hợp tác làm nhà phân phối, tiếp thị thương hiệu nước cam Orangina (Schweppes International Limited, Hà Lan) tại 10 nước khu vực Đông Nam Á. Thế nhưng, đến giữa năm 2010, hợp tác này đã kết thúc. Thỏa thuận mua một số nhãn hàng các sản phẩm chăm sóc cá nhân dành cho trẻ em của Disney và Arsenal cũng bị chấm dứt trong thời gian này. Chỉ có thương vụ ICP mua lại Thuận Phát, công ty trong lĩnh vực thực phẩm, là vẫn còn cho đến ngày hôm nay.
Việc liên tục tham gia hợp tác kinh doanh với nhiều ngành hàng khác nhau, một mặt nào đó, ông Công muốn biến ICP thành một tập đoàn đa ngành như Unilever hay P&G. Tuy nhiên, để tạo nên một X-Men thứ 2 không dễ chút nào. Chính ông cũng thừa nhận trong một bài trả lời phỏng vấn báo chí: “Bây giờ có tiền để lặp lại thành công của X-Men, tôi cũng không làm được, muốn thành công, tôi phải tìm ra được những cơ hội lịch sử mới”.
X-Men đã đổi chủ
Năm 2010 là thời điểm các quỹ đầu tư vào ICP rục rịch thoái vốn. Đầu năm 2011, Mekong Capital và BankInvest đã đồng ý bán 42% cổ phần của họ trong ICP cho một doanh nghiệp hóa mỹ phẩm lớn tại Ấn Độ là Mario. Tiếp đó, nhiều nhà đầu tư cá nhân góp vốn vào công ty cũng đồng ý tham gia thương vụ này. Kết quả, 85% vốn của ICP được bán cho Mario với giá trên 60 triệu USD. Ông Phan Quốc Công còn nắm giữ 15% cổ phần của công ty kèm thỏa thuận làm Tổng giám đốc ICP đến năm 2014.
Đây là kết quả khó tránh khỏi, khi cổ phần của ICP do các quỹ đầu tư nắm lên đến 42%. Ông Công cho biết: “Hiện ICP chỉ còn 2 cổ đông chính là Mario và tôi. Điều này cho phép chúng tôi hướng đến những mục tiêu dài hạn để phát triển lâu dài và bền vững”. Mario bỏ ra 60 triệu USD để mua 85%, tương ứng mức định giá ICP vào khoảng 70 triệu USD. Tất nhiên, với tỷ lệ sở hữu này, ICP cũng trở thành công ty nước ngoài.
Sau khi về với Mario, doanh thu thuần của ICP tăng đáng kể. Năm 2011 là 550 tỉ đồng, tăng 45% so với năm 2010 và lợi nhuận cũng tăng gấp 4 lần so với năm trước. Năm 2012 tăng trên 20% so với năm 2011. Đặc biệt, năm 2012 cũng đánh dấu một sự kiện khá thành công của ICP là các sản phẩm của công ty đã được xuất khẩu sang Malaysia và một số quốc gia châu Á và châu Phi khác. Ông Công cho biết: “Mario đã giúp việc quản trị và điều hành công ty tập trung hơn so với thời gian trước”. Có nghĩa là, sau khi về với Mario, ICP có vẻ được nhiều hơn mất.
Tuy nhiên, đó là câu chuyện của ICP khi ông Phan Quốc Công vẫn đang ngồi ghế thuyền trưởng. Sau năm 2014, thời điểm chấm dứt vai trò tổng giám đốc công ty theo thỏa thuận với Mario, không chỉ số phận của “đàn ông đích thực” mà số phận của Thuận Phát, thương hiệu ICP mua về trước đó, sẽ thế nào cũng là điều thật khó cho chính người trong cuộc dự đoán.

7 thương hiệu nổi tiếng đã bị biến mất

Washington Mutual, với trụ sở tại Seattle, đã phát triển chóng mặt sau khi Kerry Killinger lên làm giám đốc điều hành vào năm 1990. Dưới sự lãnh đạo của ông, ngân hàng bắt đầu mua lại các tổ chức tài chính nhỏ trong hai thập kỷ tiếp theo. Sau đó, ngân hàng bắt đầu tập trung mạnh vào thương hiệu và tiếp thị bản thân với các chiến dịch quảng cáo mà trong đó ngân hàng WaMu thường chế nhạo các ngân hàng khác. Tuy vậy, trong cuộc khủng hoảng tài chính, chính WaMu đã trở thành vụ phá sản ngân hàng lớn nhất lịch sử Hoa Kỳ. J.P. Morgans Chase & Co, ngân hàng trước đây từng bị WaMu lấy ra làm trò cười đã mua lại ngân hàng này.


Lehman Brothers, Sony Ericsson hay Compaq là những thương hiệu đã có một thời lừng danh nhưng ngày nay đã gần như biến mất do sáp nhập hay phá sản.
7. Lehman Brothers
Lehman Brothers là một trong những doanh nghiệp tài chính nổi tiếng và nhận được sự kính trọng nhất trên phố Wall. Nhưng cuộc khủng hoảng nhà đất toàn cầu năm 2007 và 2008 đã khiến Lehman sụp đổ hoàn toàn sau khi cố gắng duy trì tổn thất hàng loạt từ các hoạt động đầu tư thế chấp. Vào tháng 9/2008, ngân hàng Barclays của Anh đã mua lại doanh nghiệp ngân hàng của Lehman cũng như hàng loạt tài sản ở Manhattan.
6. Cingular Wireless
Cingular Wireless được thành lập năm 2000 như là một liên doanh giữa 60% chủ sở hữu SBC và 40% chủ sở hữu BellSouth. Thương hiệu này nhanh chóng trở thành một một thương hiệu có tiếng của Hoa Kỳ. Năm 2007, thương hiệu của hãng này có giá trị trên 9,2 tỷ USD, theo đánh giá của Brand Z. Tuy vậy, sau một số vụ sáp nhập, bao gồm các công ty mẹ của Cingular đã làm phức tạp thương hiệu này. Năm 2005, SBC đã mua AT&T và đổi tên thành AT&T. Công ty AT&T mới sau đó đã sáp nhập với BellSouth.
5. Wachovia
Năm 2006, Wachovia được đánh giá là thương hiệu có giá trị thứ 54 trên thế giới, theo Brand Z. Đến năm 2008, vị trí của Wachovia là 67. Vào thời điểm đó, đây là ngân hàng lớn thứ tư của Hoa Kỳ dựa theo khối lượng tài sản. Tuy nhiên cũng vào năm đó, cuộc khủng hoảng tài chính và nhà đất đã đẩy Wachovia vào tình trạng khó khăn. Việc cho vay tràn lan đã dẫn tới doanh thu sụt giảm trầm trọng. Vào tháng 1/2009, Wells Fargo & Co hoàn tất việc mua lại Wachovia với giá 15,1 tỷ USD
4. Saab
Saab là nhà sản xuất xe hơi nổi tiếng tại châu Âu trong nhiều năm. Dòng xe 900 của hãng đạt được thành công lớn ở Mỹ trong suốt những năm 1980-1990. Tuy nhiên tính đến năm 2000, sự hấp dẫn của thương hiệu đã không còn như trước. General Motors vốn sở hữu nửa công ty đã mua số phần còn lại của Saab vào năm 2000. Trong thời gian trực thuộc GM, Saab hầu như thua lỗ. Năm 2008, Saab đã bán 21.368 đơn vị ở Hoa Kỳ, theo các số liệu thống kê được cung cấp từ Edmunds.com. Một năm sau đó, Saab lại tiếp tục bán 8.600 đơn vị và sụt giảm mạnh kể từ đó. Năm 2011, Saab tuyên bố phá sản.
3. Sony Ericsson
Sony Ericsson là một doanh nghiệp liên doanh giữa Sony của Nhật và công ty điện thoại Thụy Điển Ericsson được thành lập năm 2001. Doanh nghiệp này nhanh chóng trở thành thương hiệu có tiếng, đứng thứ 36 trong tổng số 100 thương hiệu quốc tế trong cùng năm, vượt lên trên những tên tuổi lâu đời như Heinz hay Louis Vuitton. Làm nên thành công của thương hiệu là chiếc điện thoại màu đầu tiên T68i và K750i với chế độ camera và nghe nhạc tích hợp trên điện thoại. Tuy nhiên, với sự ra mắt ồ ạt của một loạt các loại điện thoại thông minh, Sony Ericsson dần trở nên thất thế trên thị trường với sự thống trị của Apple và Android. Tháng 10/2011, Sony đã bán cổ phần của Ericsson.
2. Washington Mutual
Washington Mutual, với trụ sở tại Seattle, đã phát triển chóng mặt sau khi Kerry Killinger lên làm giám đốc điều hành vào năm 1990. Dưới sự lãnh đạo của ông, ngân hàng bắt đầu mua lại các tổ chức tài chính nhỏ trong hai thập kỷ tiếp theo. Sau đó, ngân hàng bắt đầu tập trung mạnh vào thương hiệu và tiếp thị bản thân với các chiến dịch quảng cáo mà trong đó ngân hàng WaMu thường chế nhạo các ngân hàng khác. Tuy vậy, trong cuộc khủng hoảng tài chính, chính WaMu đã trở thành vụ phá sản ngân hàng lớn nhất lịch sử Hoa Kỳ. J.P. Morgans Chase & Co, ngân hàng trước đây từng bị WaMu lấy ra làm trò cười đã mua lại ngân hàng này.
1. Compaq
Vào đầu thế kỉ 21, Compaq chiếm 20% doanh số bán máy tính cá nhân tại Hoa Kỳ. Năm 2001, Compaq được xếp thứ 24 trên danh sách các thương hiệu có giá trị nhất thế giới. Vào tháng chín cùng năm đó, Hewlett Packard tuyên bố mua 25 tỷ USD cổ phiếu của Compaq. Doanh số của cả hai công ty cùng giảm và sự sáp nhập này là nỗ lực của họ để cạnh tranh với International Business Machines. Tuy nhiên, các vấn đề về quản lý và thị trường máy tính biến động đã dẫn tới sự sụt giảm nghiêm trọng của hai công ty này. Tháng năm vừa qua, HP tuyên bố sẽ xóa bỏ nhãn hiệu HP Compaq và thương hiệu Compaq sẽ chỉ được sử dụng cho các sản phẩm cấp thấp. Theo đại diện bán hàng của HP ở Wal-Mart, các cửa hàng vẫn cung cấp máy tính Compaq nhưng HP đã không còn bán máy tính Compaq nữa.

Tuyệt chiêu khi quảng bá văn hóa ẩm thực

Đây quả thật là chiến lược quảng bá hình ảnh quốc gia hết sức hiệu quả của chính phủ Singapore. Chỉ vài phút sau khi clip Ramsay "nhận lời" thách đấu với Singapore được tung ra, đã có hàng trăm ngàn lượt chia sẻ hình ảnh và clip của vị giám khảo Masterchef và Hell's Kitchen đang rất được yêu thích này bên cạnh các món ăn đặc trưng của Singapore.


Là 1 trong 4 đầu bếp duy nhất ở Vương quốc Anh bảo vệ được danh hiệu nhà hàng 3 sao Michelin, linh hồn của những chương trình truyền hình hấp dẫn như Master Chef hay Hell's Kitchen, ít ai nghĩ rằng có 1 ngày chef Gordon Ramsay lại bại trận trước những "cao thủ" đường phố Singapore.
Văn hóa "hawker center" độc đáo của Singapore
Ramsay trong vòng vây người hâm mộ tại một "hawker center" (khu ăn uống) - Ảnh: AFP
Ẩm thực đường phố Singapore - "street hawker", phát triển mạnh mẽ vào giai đoạn hậu Thế Chiến thứ 2. Đây là một ngành nghề phổ biến và phù hợp cho mọi giới bởi chi phí đầu tư thấp nhưng lợi nhuận lại cao. Vào những năm 60 của thế kỷ trước, toàn bộ đảo quốc Singapore có hơn 24.000 hộ kinh doanh ăn uống tự do theo kiểu này.
Tuy nhiên mô hình kinh doanh tự do này lại tiềm ẩn rất nhiều rủi ro: các chuẩn mực an toàn vệ sinh thực phẩm, nguồn cung cấp, thất thoát về thuế... cũng như lượng chất thải khổng lồ từ các món ăn.
Chính phủ Singapore đã có 1 quyết định hết sức đúng đắn vào thời điểm đó là di dời tất cả các hộ kinh doanh ăn uống vào những khu vực có quy hoạch bài bản nhằm đảm bảo những tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. Đồng thời các hộ bắt buộc phải đăng ký giấy phép kinh doanh như một biện pháp chống thất thu thuế. Chiến dịch này được hoàn tất vào cuối năm 1969.
Cho đến nay, toàn đảo quốc Singapore đã có hơn 140 "hawker center" - khu ăn uống, tạo nên một diện mạo ẩm thực hết sức thú vị. Thực khách có thể thưởng thức những món ăn đường phố hấp dẫn, đồng thời hoàn toàn an tâm về những tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. Bên cạnh đó, chính phủ Singapore đã có rất nhiều hoạt động để bảo tồn và duy trì văn hóa kinh doanh độc đáo này.
Thử thách "Người hùng hawker" với vua đầu bếp Ramsay
Qua hơn 1.000 lượt bình chọn, Ramsay chiến thắng ở món "cua sốt ớt" (giữa) nhưng đã hoàn toàn gục ngã ở 2 món còn lại là "mì càri Laksa" và "cơm gà Hải Nam" - Ảnh: AFP
Văn hóa "hawker center" hấp dẫn đến mức đôi khi cư dân Singapore tự hỏi: "Liệu những đầu bếp đẳng cấp thế giới như Gordon Ramsay có nấu những món đặc trưng của đảo quốc này ngon bằng các đầu bếp địa phương hay không?". Và để trả lời câu hỏi đó, chính Ramsay đã nhận lời "thách đấu" với 3 đầu bếp tài hoa nhất của Singapore trong sự kiện mang tên "Thử thách Người hùng hawker" (Hawker Hero Challenge).
Được tổ chức bởi nhà mạng lớn nhất Singapore là Singtel, hiệu ứng của chương trình lan truyền rất nhanh trên đảo quốc này cũng như lan tỏa mạnh mẽ đến các nước trong cùng khu vực. Khởi đầu là câu khẩu hiệu ấn tượng "It's Singapore VS Ramsay" (Singapore đối đầu với chef Ramsay) cùng đoạn clip ngắn mà trong đó Ramsay lạnh lùng tuyên bố: "Tôi chấp nhận lời thách đấu!" như phong cách thường thấy.
Người dân Singapore được quyền bầu chọn những đầu bếp cùng món ăn mà họ yêu thích nhất để tham gia thử thách ở bất cứ nơi nào, từ màn hình xe buýt, trạm xe điện ngầm cho đến các thiết bị di động... Cuối cùng, 3 món ăn đặc trưng của Singapore được chọn là "mì càri Laksa", "cơm gà Hải Nam" và "cua sốt ớt".
Ramsay bên cạnh người chủ của thương hiệu cơm gà Hải Nam Tian Tian - cũng là người đánh bại ông trong thử thách này - Ảnh: AFP
Trong suốt ngày "quyết đấu" 7/7 vừa qua, Ramsay đã nấu 3 món trên và thực khách sau khi đã nếm thử sẽ chấm điểm cho từng món ăn.
Qua hơn 1.000 lượt bình chọn, Ramsay chiến thắng ở món "cua sốt ớt" nhưng đã hoàn toàn gục ngã ở 2 món còn lại là "mì càri Laksa" và "cơm gà Hải Nam".
Vậy là, một trong những đầu bếp hàng đầu của thế giới đã không thể nấu những món Singapore ngon bằng... người Singapore. Một thử thách có thể xem là hơi kỳ cục, tuy nhiên cũng gợi nên rất nhiều điều thú vị
Một cách quảng bá hình ảnh quốc gia hiệu quả
Ramsay bên dĩa cơm gà Hải Nam Tian Tian - Ảnh: AFP
Có thể xem "Thử thách Người hùng hawker" là một chương trình truyền hình thực tế khá thành công khi đã kết hợp hài hòa văn hóa ẩm thực Singapore, một quốc gia nhỏ bé với chỉ hơn 5 triệu dân cùng lịch sử lập quốc ngắn ngủi, với hình ảnh của một cá nhân - đầu bếp 3 sao Michelin Ramsay đẳng cấp thế giới.
Nếu nhìn nhận đầy đủ, đây không hẳn là một thử thách hay cuộc thi, mà chỉ đơn thuần là một chiến dịch quảng bá cho văn hóa ẩm thực Singapore.
Thông qua sự lan tỏa mạnh mẽ của mạng xã hội mà cụ thể là Facebook, Twiiter hay Youtube, những hình ảnh mô tả sự hấp dẫn và phong phú của ẩm thực Singapore đã gần gũi với bạn bè năm châu hơn. Và tất nhiên không thể không kể đến sức hút của Gordon Ramsay, vị đầu bếp được xem là nổi tiếng nhất nhì thế giới.
Đây quả thật là chiến lược quảng bá hình ảnh quốc gia hết sức hiệu quả của chính phủ Singapore. Chỉ vài phút sau khi clip Ramsay "nhận lời" thách đấu với Singapore được tung ra, đã có hàng trăm ngàn lượt chia sẻ hình ảnh và clip của vị giám khảo Masterchef và Hell's Kitchen đang rất được yêu thích này bên cạnh các món ăn đặc trưng của Singapore.
Dù cho kết quả cuộc thi là như thế nào đi nữa, thì chính phủ Singapore cũng đã "ghi điểm" trong chiến lược quảng bá hình ảnh quốc gia với thế giới. Điều mà Việt Nam, với nền văn hóa ẩm thực phong phú hơn rất nhiều, vẫn chưa thể làm được.

Cách tiếp thị hình ảnh trên mạng xã hội

Ngược lại, cũng nhanh chóng tiếp cận những khách hàng gửi hình ảnh tiêu cực về thương hiệu của bạn. Đưa ra các xử lý kịp thời để biến một tình huống tiêu cực thành tích cực.


Khoảng 90% thông tin được truyền đến não là hình ảnh và hình ảnh được xử lý 60.000 lần nhanh hơn trong não so với văn bản. Đó là lý do tại sao các thương hiệu lại mở rộng quảng bá bằng hình ảnh trên mạng xã hội.
Coca-Cola đã thu hút được 63 triệu fan đến với fanpage, còn Starbucks sở hữu đến 30 triệu fan. Hai thương hiệu này rất chú ý trong việc sử dụng các mạng xã hội Facebook, Twitter, Pinterest và Google + để duy trì hình ảnh thương hiệu và nâng cao nhận thức của khách hàng về chiến dịch quảng cáo của mình.
Đội ngũ quản lý Facebook của Coca-Cola cũng thường xuyên đăng tải nội dung dưới hình thức "poll", tuy nhiên, lượng tương tác đến từ bài đăng kiểu này vẫn còn thua xa dạng nội dung hình ảnh trên phương diện "like" và bình luận.
Vì thế, để thành công với tiếp thị xã hội, các thương hiệu cần phải có chiến lược hình ảnh, trong đó kết hợp biểu tượng và đồ họa vào nội dung. Dưới đây là bốn cách thiết thực để đưa hình ảnh vào chương trình tiếp thị truyền thông xã hội.
1. Lựa chọn hình ảnh
Xác định hình ảnh thương hiệu có thể chia sẻ tới số đông là yếu tố đầu tiên cần quan tâm trong một chiến dịch tiếp thị bằng hình ảnh. Hài hước, đẹp, thú vị, cảm động và hấp dẫn là những hình ảnh có khả năng được chia sẻ nhiều nhất.
Đi sâu hơn, có thể phân tích các trang mạng xã hội để xem những thể loại hình ảnh thường được nhiều người chia sẻ nhất theo từng thể loại và nhóm khách hàng phù hợp. Nike đã nghiên cứu thông tin về khách hàng rất kỹ trước khi tham gia mạng xã hội Pinterest.
2. Chọn mạng đăng tải
Hầu hết các thương hiệu đều có trang Facebook, Twitter nhưng nếu lựa chọn cho chiến dịch quảng bá bằng hình ảnh, bạn nên có tài khoản trên Pinterest, Tumblr và Instagram. Tuy nhiên, thống nhất được thông điệp cần chuyển tải trên nhiều mạng xã hội là lưu ý cần quan tâm.
Chẳng hạn, Pepsi đang ứng dụng thành công hình thức truyền thông hợp thời nhất gọi là SoLoMo: xã hội (Social), tính địa lý địa phương (local) và các thiết bị di động (mobile). Thông qua các thiết bị di động này, Pepsi có thể phân tích được lượng truy cập của khách hàng đền từ từng vùng địa lý.
3. Theo dõi và đo lường
Với sự giúp đỡ của SocialFlow, một công cụ xếp hạng mức độ phổ biến của những nội dung mà những khách hàng đang follow hãng cung cấp, Adidas hay Unilever đã tìm hiểu được khách hàng của họ đang thích thú với vấn đề nào. Tuy nhiên, trong chiến lược quảng bá hình ảnh, thách thức là phải theo dõi hàng trăm triệu hình ảnh mỗi ngày.
Nguy cơ không giám sát được hình ảnh là rất cao vì người tiêu dùng có thể gửi hình ảnh thương hiệu của bạn trong bối cảnh tiêu cực, làm thay đổi hình ảnh thương hiệu, hoặc gửi hình ảnh của sản phẩm giả mạo... Tìm kiếm và xử lý những hình ảnh tiêu cực là rất quan trọng để bảo vệ hình ảnh trực tuyến của thương hiệu.
4. Khuyến khích chia sẻ
Hãy có nhiều chương trình khuyến khích khách hàng chia sẻ hình ảnh thương hiệu của bạn nhiều hơn nữa. Tiếp cận với họ bằng những ưu đãi đặc biệt như phiếu giảm giá, thẻ VIP. Bạn sẽ biến những người ủng hộ thành "những nhân vật ảnh hưởng" và tạo nên hiệu ứng trong mạng xã hội.
Ngược lại, cũng nhanh chóng tiếp cận những khách hàng gửi hình ảnh tiêu cực về thương hiệu của bạn. Đưa ra các xử lý kịp thời để biến một tình huống tiêu cực thành tích cực.
Burberry đã tận dụng Facebook, Twitter và cả trang tiểu blog Sina Weibo để tăng cường sự hiện diện thương hiệu tại thị trường Trung Quốc.
Burberry đã sử dụng Twitter và Instagram khi tung ra bộ sưu tập và phát trực tuyến chương trình này trên kênh YouTube. Những khách viếng thăm hoặc like các hình ảnh bộ sưu tập đều có cơ hội sở hữu vé xem trình diễn hoặc những chuyến du lịch... 

10 thương hiệu phổ biến nhất ở Việt Nam


Tương tự, một thương hiệu nổi tiếng của Unilever là Omo cũng chỉ ngậm ngùi nhận vị trí thứ 9 ở Việt Nam với 9,9 triệu người mua ở 4 thành phố khảo sát, trong khi có tới 445 triệu người trên thế giới sử dụng loại bột giặt này.

Có tới 6 thương hiệu lọt top 10 là sản phẩm thuần Việt, trong đó, công ty sữa Việt Nam giữ ngôi độc tôn với 3 cái tên là Vinamilk, Ngôi Sao Phương Nam và Ông Thọ.
Trong báo cáo nghiên cứu thị trường độc lập của Kantar Worldpanel Việt Nam thực hiện tại 4 thành phố lớn, 10 thương hiệu thuần Việt lọt danh sách phổ biến nhất thị trường nội địa có tới 6 đại điện. Trong đó, công ty sữa Việt Nam giữ vị trí đầu tiên với 3 thương hiệu là Vinamilk, Ngôi Sao Phương Nam và Ông Thọ, các đại diện còn lại là Chinsu (Masan), Hảo Hảo (sản phẩm của Acecook Việt Nam) và Tường An.
Dưới đây là top 10 thương hiệu hàng tiêu dùng dẫn đầu tại Việt Nam (khảo sát trên 4 thành phố chính gồm Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng và Cần Thơ).
Vinamilk là thương hiệu hàng tiêu dùng phổ biến nhất tại Việt Nam với tỷ lệ người dùng tại 4 thành phố thực hiện khảo sát lên tới 94%, với tần suất mua trung bình là 27 lần/năm.
Chinsu - nhãn hiệu nước mắm của ông lớn hàng tiêu dùng Masan giữ vị trí thứ 2 với tỷ lệ phổ biến là 93% tại khu vực khảo sát.
Hảo Hảo xếp vị trí thứ 3 với tỷ lệ 71%. Trong một quảng cáo, Hảo Hảo từng nêu ra con số "phục vụ trên 2 tỷ bữa ăn ngon dành cho người Việt".
Dutch Lady - Cô gái Hà Lan - là nhãn hiệu sữa ngoại duy nhất lọt top 10 thương hiệu hàng tiêu dùng phổ biến. Số lượng người mua đạt 16,8 triệu người, với tần suất là 11 lần/năm.
Tường An nổi tiếng với các sản phẩm dầu ăn và bơ thực vật.
Nhãn hiệu sữa đặc có đường Ngôi Sao Phương Nam của Vinamilk đứng ở top 6.
Oishi nổi tiếng với các sản phẩm snack và kẹo
Tuy chỉ xếp thứ 8 về mức độ phổ biến tại Việt Nam nhưng trên thế giới, Ajinomoto lại đứng thứ 19 với hơn 890 triệu người dùng.
Tương tự, một thương hiệu nổi tiếng của Unilever là Omo cũng chỉ ngậm ngùi nhận vị trí thứ 9 ở Việt Nam với 9,9 triệu người mua ở 4 thành phố khảo sát, trong khi có tới 445 triệu người trên thế giới sử dụng loại bột giặt này.
Nhãn hiệu sữa đặc có đường thứ hai của Vinamilk lọt vào top 10 là Ông Thọ.

Triết lý cuộc sống từ bữa ăn sáng

Với sản phẩm đơn giản tạo nên thương hiệu sáng giá, Kellogg’sthuộc diện những thương hiệu rất thành công với việc "thương hiệu hoá" sản phẩm. Trong thế giới thương hiệu, không phải cứ có sản phẩm là đã có thương hiệu. Việc gây dựng, phát triển và bảo vệ thương hiệu bao giờ cũng xuất phát từ sản phẩm, nhưng là quá trình hoàn toàn khác nên cần phải được tổ chức và vận hành theo cách thức và những nguyên tắc hoàn toàn khác.


Trong thế giới thương hiệu, Kellogg’s đặc biệt đến mức độc nhất vô nhị ở lịch sử hình thành, ở đặc thù sản phẩm và ở triết lý về chất lượng cuộc sống ẩn hiện trong mục đích sử dụng đơn giản của sản phẩm.

Tên thương hiệu này được sử dụng sau khi đã có sản phẩm và Kellogg’s gắn liền với vật chất là lúa ngô và với một dấu mốc trong cuộc sống hàng ngày của con người là bữa ăn sáng. Đơn giản chỉ có thế mà Kellogg’s trở thành một trong những thương hiệu sáng giá nhất thế giới.
Từ chữa bệnh đến "cuộc cách mạng về bữa sáng"
Năm 2012, hãng xếp hạng giá trị thương hiệu Interbrand đánh giá thương hiệu Kellogg’s trị giá 12,07 tỷ USD và xếp nó đứng thứ 29 trong số 100 thương hiệu sáng giá nhất thế giới. Nếu đặt điều này trong bối cảnh sản phẩm mang tên thương hiệu chỉ là bỏng lúa ngô và mục đích sử dụng chính của sản phẩm chỉ là bữa ăn sáng thì mới thấy điều kỳ lạ ở Kellogg’s là nó được con người và thị trường chấp nhận và mến mộ, lại không phải mãi đến tận bây giờ mới vậy mà đã từ hơn một thế kỷ nay.
Gốc rễ của thương hiệu này là một khu điều trị và nghỉ dưỡng ở Battle Creek (bang Michigan, Mỹ). Trại điều trị và nghỉ dưỡng này có tên gọi chính thức là Western Health Reform Institute. Tại đây, bệnh nhân được chữa chạy và phục hồi những chức năng cơ thể thông qua luyện tập, dùng ánh sáng mặt trời tự nhiên và nhân tạo, ăn chay, không uống rượu và cà phê, không hút thuốc lá...
Năm 1875, bác sỹ John Harvey Kellogg’s bắt đầu làm việc ở đây. Năm 1880, người em trai là Will Keith Kellogg’s đảm nhận cương vị điều hành khu điều trị và nghỉ dưỡng này. Phải khá nhiều năm sau, họ mới thành lập công ty riêng và cho ra đời thương hiệu Kellogg’s.
Hai anh em đã tốn khá nhiều công sức để chế ra những loại đồ ăn bổ dưỡng thích hợp cho bệnh nhân ở đây. Quan điểm của họ là dùng thức ăn và thói quen ăn uống để chữa bệnh. Vì phải là đồ ăn không thịt động vật nên sản phẩm họ làm ra phải bổ dưỡng, nói đúng hơn là phải đảm bảo dinh dưỡng cho bệnh nhân, lại phải đa dạng, dễ ăn và hợp khẩu vị đến mức trở thành khoái khẩu đối với bệnh nhân. Họ đặc biệt lưu tâm tới bữa sáng.
Quan niệm chung của con người xưa nay vẫn cho rằng, bữa ăn sáng quan trọng nhất trong tất cả những bữa ăn trong ngày. Người Anh vẫn thường nói "Một bữa ăn sáng tốt đưa lại sự khởi đầu tốt cho ngày hôm đó". Người Đức có câu tục ngữ "Ăn sáng như một ông hoàng, ăn trưa như người bình thường và ăn tối như một kẻ ăn mày".
Nhờ sự tình cờ mà năm 1894, hai người một lần nhìn thấy lúa mạch bị quên chưa nấu trong đêm. Họ nghĩ ra việc rang, quay lúa mạch thành bỏng và tin rằng sử dụng bỏng để làm đồ ăn sáng sẽ dễ ăn hơn nhiều so với bánh mỳ đơn điệu lâu nay. Bỏng này sau khi được sấy khô sẽ rất nhẹ, ăn giòn tan, lại có thể ăn cùng với súp mặn hay sữa ngọt, trộn muối hay đường... Họ gọi sản phẩm của họ là Granose.
Hai người đã không chỉ thay đổi mà đã tiến hành một cuộc cách mạng thực sự về bữa ăn sáng.
Sự ưa chuộng của bệnh nhân đã gợi mở và củng cố lòng tin cho Will Keith Kellogg’s vào việc có thể thương mại hóa sản phẩm này. Năm 1906, ông thành lập công ty Battle Creek Toasted Corn Flake Company chuyên chế biến bỏng lúa ngô, đóng gói và bán ra thị trường. Thương hiệu Kellogg’s chính thức xuất hiện trên thị trường và trong thế giới thương hiệu từ đấy. Năm 1922, công ty này đổi tên thành Kellogg’s Company. Ngày nay, doanh số hàng năm của công ty đạt 13 tỷ USD, sử dụng 32.000 nhân công, sản xuất ra 50 loại sản phẩm khác nhau ở 18 quốc gia rồi xuất đi 180 nước trên thế giới.
Tiếp thị và triết lý thương hiệu
Bí quyết quyết định thành công của Kellogg’s là quảng cáo tiếp thị và thông qua đó truyền tải được triết lý của thương hiệu.
Kellogg’s là một trong những tập đoàn ở Mỹ chi nhiều tiền nhất cho quảng cáo và tiếp thị sản phẩm, đi đầu trong việc sử dụng sóng phát thanh và truyền hình để làm việc này. Những quảng cáo của Kellogg’s trên đài phát thanh hay truyền hình được đánh giá là có nghệ thuật trong việc sử dụng màu sắc và hình ảnh trên bao bì. Kellogg’s ý thức được rằng, chỉ như vậy thì mới có thể truyền tải được triết lý của thương hiệu. Đó là triết lý cuộc sống về bữa ăn sáng.
Bữa ăn sáng được coi như sự khởi đầu của ngày. Nó không chỉ làm no mà còn tạo cho con người cảm giác khoan khoái và hài lòng, sung sướng và yêu đời. Bởi thế, con người không những chỉ có nhu cầu, mà còn cả trách nhiệm phải ăn sáng và chỉ có Kellogg’s mới có thể làm nên bữa ăn sáng hoàn hảo và đầy ý nghĩa đến như thế.
Kellogg’s sử dụng mọi thủ pháp và phương tiện có thể tận dụng được để thâm nhập triết lý này vào người tiêu dùng thuộc đủ mọi thế hệ. Nhờ thế mà cho tới nay, Kellogg’svẫn luôn đánh bại được mọi đối thủ cạnh tranh, cho dù sản phẩm của một số doanh nghiệp khác trong các cuộc "thử mù" (thử mà không được biết đó là sản phẩm của ai - PV) đều ngang ngửa hoặc thậm chí còn được đánh giá cao hơn cả Kellogg’s.
Nhìn từ giác độ thương hiệu, cách thức quảng cáo tiếp thị và triết lý thương hiệu của Kellogg’s là gây dựng cho thương hiệu nội hàm biểu trưng cho một lối sống lành mạnh và có trách nhiệm đối với bản thân và cộng đồng, dùng thương hiệu làm thay đổi thói quen dinh dưỡng của con người và làm cho con người không những chỉ bị chi phối trong nhận thức mà còn ở chừng mực nhất định phụ thuộc vào sản phẩm trong cuộc sống hàng ngày.
Với sản phẩm đơn giản tạo nên thương hiệu sáng giá, Kellogg’sthuộc diện những thương hiệu rất thành công với việc "thương hiệu hoá" sản phẩm. Trong thế giới thương hiệu, không phải cứ có sản phẩm là đã có thương hiệu. Việc gây dựng, phát triển và bảo vệ thương hiệu bao giờ cũng xuất phát từ sản phẩm, nhưng là quá trình hoàn toàn khác nên cần phải được tổ chức và vận hành theo cách thức và những nguyên tắc hoàn toàn khác.
Kellogg’s thành công bởi triết lý cuộc sống từ bữa ăn sáng của Kellogg’s dễ được chấp nhận, có khả năng thuyết phục và không thể bị bác bỏ. Với triết lý ấy, nhân loại càng thêm đông và ý thức của con người về lối sống lành mạnh càng sâu sắc thì thương hiệu này lại càng thành công.


Kích thích cho khách hàng đón đọc email của bạn

Bạn có thể tạo ra một email vừa mang tính giải trí, vừa giúp khách hàng tiết kiệm được tiền bạc hoặc thời gian. Tuy nhiên, mỗi email chỉ nên tập trung vào một trong bốn hướng đã nêu trên.


Nếu muốn trở thành một nhà tiếp thị thành công bằng email, bạn phải lôi cuốn được nhiều người đăng ký nhận tin mở đọc thông điệp của bạn. Rõ ràng, nếu người nhận không mở và đọc email của bạn thì làm sao họ thực hiện hành động mà bạn kỳ vọng?
Nếu bạn muốn đông đảo khách trên mạng luôn đón đọc email của bạn một cách thường xuyên thì hãy tham khảo những chỉ dẫn dưới đây.
Giải quyết vấn đề
Nếu biết rõ một bản tin tiếp thị điện tử định kỳ có thể giúp bạn giải quyết được vấn đề nào đó mà bạn đang cần giải pháp phù hợp nhất thì bạn sẽ đăng ký nhận bản tin ấy?
Nếu người gửi tin ngay từ đầu đặt ra một kỳ vọng cho bạn và cam kết rằng mỗi email sẽ hướng bạn đến cách giải quyết vấn đề thì bạn có từ chối đọc lấy các thông điệp ấy không?
Ví dụ điển hình về một doanh nghiệp thu hút được nhiều người đến với mình bằng cách khêu gợi ấy chính là Quibb – một website tin tức chuyên môn, cho phép mọi người chia sẻ những gì họ đã đọc được liên quan đến công việc của mình.
Nó còn giúp người nhận tin giải quyết được các rắc rối bằng cách đọc được các thông tin mới và tạo điều kiện cho các người đọc nhanh chóng bắt kịp những xu hướng đang diễn tiến trong lĩnh vực nghề nghiệp chuyên môn của họ.
Phương thức giải quyết vấn đề của Quibb đã giúp tỷ lệ mở thư trung bình của họ đạt đến mức tối đa là 70%.
Theo Hiệp hội Tiếp thị trực tiếp (DMA), đó là kết quả cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ mở thư điện tử tiếp thị trung bình hiện nay ở thị trường quảng cáo Bắc Mỹ (chỉ được 25,6%). 
Tiết kiệm tiền bạc
Coupon và các email về “hot deal” khác thường tăng trưởng mạnh thông qua việc gửi đến bạn đọc những cơ hội tiết kiệm thực sự.
Tất nhiên, ai cũng sẵn sàng chi ra một khoản tiền nhỏ lúc này để được tiết kiệm cho một khoản tiền lớn khi khác, vì thế hẳn sẽ là một món quà lý tưởng và khó có thể cưỡng lại nếu khách hàng chỉ phải chi một khoản tiền nhỏ hôm nay để ngày mai nhận được phiếu giảm giá đến 50% khi ăn tối tại một nhà hàng sang trọng hoặc giảm 40% chi phí thay nhớt cho chiếc xe hơi của mình trong những ngày tới.
Tương tự, giới tiếp thị trong ngành hàng tiêu dùng có thể sử dụng các cụm từ lôi cuốn như “miễn phí”, “tiết kiệm”, “khuyến mãi” hay “giao hàng tận nơi miễn phí” trong dòng tiêu đề của bức thư quảng cáo.
Trên thực tế, không ít người được hỏi đã trả lời rằng họ quan tâm đến những lá thư ấy và lưu chúng trong hộp thư điện tử để nếu có nhu cầu mua sắm tại cửa hàng hay mua bán trực tuyến thì mở ra tra cứu.
Đối với từng đợt email tiếp thị, bạn hãy thử nghiệm các hình thức quảng bá khác nhau. Đôi khi, việc vận chuyển hàng miễn phí lại tỏ ra hiệu quả hơn giảm giá.
Trong những lần khác, việc tiết kiệm một số tiền nhất định, chẳng hạn giảm được vài chục ngàn đồng, lại trở nên rất hấp dẫn đối với nhiều khách hàng. Do đó, bạn nên thử nhiều dòng tiêu đề khác nhau để nắm bắt được sự phản ứng và hồi âm của khách hàng.
Giúp khách hàng hoàn thiện bản thân
Phần lớn chúng ta đều mong rằng qua mỗi ngày trong cuộc sống lại học được thêm những điều mới lạ và bổ ích.
Để hoàn thiện kỹ năng sống của mình, chúng ta luôn đón đọc thông tin từ báo chí và trên mạng, thậm chí nhiều người còn đăng ký những khóa học ngắn hạn.
Vì thế, không ít nhà tiếp thị đã biết tận dụng niềm khao khát hoàn thiện bản thân của các khách hàng bằng việc gửi đi những email hứa hẹn hỗ trợ hiện thực hóa khao khát ấy.
Ví dụ, email định kỳ phát ra ngày Chủ nhật của chuyên gia mạng xã hội Chris Brogan có mục đích giúp các độc giả trở nên thông thái và sáng tạo hơn trong cuộc sống của họ.
Trong một lá thư điện tử mới nhất của mình mang tiêu đề “Vỉa hè, cửa hàng và sân sau” nhằm chia sẻ về những cơ hội kinh doanh và cách thức để khách hàng tiềm năng tìm thấy những món hàng yêu thích với giá cả hợp lý, mạng xã hội của Chris Brogan đã đạt tỷ lệ mở thư lên đến 40%, nghĩa là có được một danh sách khách hàng tiềm năng lớn đến mức không ngờ.
Nếu bạn có ý định tập trung vào việc bán hàng thì hãy thử làm theo Chris Brogan: tạm gác việc bán hàng, chỉ gửi đến khách hàng vài nội dung thật sự bổ ích.
Giúp khách hàng giải trí
Một số email vận dụng cách thức khá đơn giản là bổ sung thông tin giải trí để tăng số lượng người đọc và doanh thu. Chẳng hạn, cuối năm 2012, MarketingProfs đã đính kèm một đoạn clip vui nhộn vào blog và email để quảng bá về diễn đàn B2B thường niên của họ.
Kết quả là họ đã bán được rất nhiều vé tham gia diễn đàn sau khi email có clip vui nhộn được truyền đi. Cần lưu ý là đoạn clip gửi đi nên đính kèm đường link dẫn đến website, cho phép chia sẻ thông tin và đăng ký nhận tin, nhờ đó bạn sẽ tiếp cận được nhiều khách hàng tương lai hơn.
Bạn có thể tạo ra một email vừa mang tính giải trí, vừa giúp khách hàng tiết kiệm được tiền bạc hoặc thời gian. Tuy nhiên, mỗi email chỉ nên tập trung vào một trong bốn hướng đã nêu trên.
Hãy kiểm tra lại những thông điệp của email mà bạn mới gửi đi gần đây để thấy bạn đã biết khai thác được một trong bốn lý do khuyến khích độc giả mở đọc email của bạn hay chưa. Nếu câu trả lời là chưa thì đã đến lúc để bạn nên suy nghĩ lại về cách thức tiếp thị của mình.

Hitachi: Cảm hứng đến từ tương lai

Chương trình này đưa ra tầm nhìn về những khó khăn mà thế giới đang phải đối mặt như bùng nổ dân số, nước sạch, năng lượng, giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng... Hitachi đang hy vọng thương hiệu của mình sẽ gắn liền với sự đổi mới trong các lĩnh vực này hoặc ít nhất là nhắc nhớ được người tiêu dùng khi họ cần phải chi tiêu tiền bạc về các vấn đề như vậy.


Năm ngoái, Hitachi đã ngừng sản xuất TV như một phần của cải tổ sau khi gánh mức thua lỗ kỷ lục từ 3 năm trước.
Đồng thời, Hãng còn đóng cửa các bộ phận sản xuất màn hình tinh thể lỏng và ổ cứng nhằm tiết kiệm chi phí mỗi năm 450 tỷ yên, tương đương 5,7 tỷ USD. Các quyết định của một thương hiệu hơn trăm năm tuổi này đã gây sốc cho ngành công nghiệp điện tử thế giới.
Tuy nhiên, việc thuê ngoài sản xuất TV giúp Hitachi thoát khỏi sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ Hàn Quốc cũng như tình trạng lao dốc của giá TV đang khiến hàng loạt tên tuổi lớn của Nhật Bản như Panasonic, Sony và Sharp đối mặt với những khoản thua lỗ ngày càng lớn. Chuyển bại thành thắng, Hitachi trong năm rồi có lợi nhuận 3,43 tỷ USD.
Quá trình dịch chuyển khỏi ngành hàng điện tử tiêu dùng của Hitachi bắt đầu vào năm 2007, thời điểm mà hãng này ngừng sản xuất máy tính cá nhân. Hiện Hitachi tập trung đầu tư vào những lĩnh vực mới như công nghệ điện toán đám mây và thành phố thông minh.
Theo xu hướng này, Hitachi đưa ra khẩu hiệu mới là "Tạo cảm hứng tương lai" (Inspire the Next), ngụ ý rằng Hitachi sẽ trở thành một luồng sinh khí mới được thế hệ kế tiếp đón nhận, không ngừng thay đổi thông qua những sáng kiến thường xuyên khi chuyển sang phục vụ xã hội trong tương lai.
Chính vì thế, Hitachi đang xây dựng hình ảnh gắn với những viễn kiến và tương lai sau này. Ngoài chương trình Sáng kiến Tài năng lãnh đạo trẻ Hitachi, Hitachi mới phát động một chiến dịch thương hiệu được tập trung vào giới thiệu các sáng kiến cho 17 quốc gia và khu vực mang tên "Xã hội sáng tạo - Đó là tương lai của chúng tôi".
Chương trình này đưa ra tầm nhìn về những khó khăn mà thế giới đang phải đối mặt như bùng nổ dân số, nước sạch, năng lượng, giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng... Hitachi đang hy vọng thương hiệu của mình sẽ gắn liền với sự đổi mới trong các lĩnh vực này hoặc ít nhất là nhắc nhớ được người tiêu dùng khi họ cần phải chi tiêu tiền bạc về các vấn đề như vậy.
Giáo sư Atsushi Osanai thuộc Đại học Waseda cho rằng, Hitachi có thể được xem như một bài học điển hình cho các công ty khác ở Nhật Bản trong việc đánh giá cần phải làm gì đối với các mảng kinh doanh gây thua lỗ. Bởi vì, theo truyền thống, nhiều công ty Nhật có xu hướng duy trì kinh doanh cho dù không đạt được lợi nhuận